Màn màn hoa vàng chữa đau đầu

Một lần thấy tôi hái cỏ sữa trên vỉa hè bờ đông sông Hàn, một bà ngoài 60 tuổi đang đi bộ thể dục lân la hỏi chuyện, rồi hái một cây dại mọc hoang bên đường hỏi tôi có biết cây gì không?

Màn màn hoa vàng - Cleome viscosa L. Màn màn hoa vàng – Cleome viscosa L.

Tôi thành thật đáp không biết. Cụ cho biết cụ cũng không biết tên cây gì, nhưng có người con gái bị đau đầu mạn tính do viêm xoang, chữa đông tây nhiều nơi không khỏi, có người quen hái cây này bảo bằm tươi rồi cho lên bếp than hồng, dùng ống trúc hít lấy khói bốc lên xông vào mũi khoảng 5-7 phút, ngày một lần, xông khoảng 3-5 lần là khỏi. Con cụ đã làm theo và đúng là hết bệnh thật. Sau đó cụ bày cho nhiều người, phần lớn đều có kết quả.

Đem mẫu cây cụ hái về nhà, tôi tra cứu trong Từ điển cây thuốc Việt Nam của Võ Văn Chi, xác định được đó là cây Màn màn hoa vàng (Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ gọi là Màng màng trĩn). Từ điển có ghi nhận “Toàn cây nấu nước xông chữa nhức đầu”, nhưng không nói cách xông khói cụ thể như bà cụ tôi gặp. Trước mắt mời bạn đọc tham khảo đôi nét về cây này trong Từ điển Cây thuốc Việt Nam sau đây.

Màn màn hoa vàng – Cleome viscosa L. (Polanisia isocandra (L.f) Wight et Arn), thuộc họ Màn màn – Capparaceae.

Mô tả: Cây thảo sống hằng năm cao tới 80cm. Cành nhánh có rãnh dọc và phủ lông mềm, dính. Lá kép chân vịt, gồm 3-5 lá chét. Hoa mọc thành chùm dài ở ngọn cây. Hoa màu vàng có 4 lá đài, 4 cánh hoa dài 7-12mm, 7-30 nhị với bao phấn xanh. Quả loại quả cái dài 5-9cm, hạt cỡ 1,5mm. Cây ra hoa quả quanh năm.

Bộ phận dùng: Toàn cây – Herba Cleomes.

Nơi sống và thu hái: Cây của phân vùng Ấn Ðộ, Malaysia mọc dài ở đất hoang và dọc các đường đi. Thu hái cây quanh năm. Thành phần hóa học: Hạt chứa 0,1% acid viscosic, 0,04% viscosin.

Tham khảo  Đinh lăng

Tính vị, tác dụng: Lá làm chuyển máu, gây phồng, làm ra mồ hôi. Hạt lợi trung tiện, trị giun, chuyển máu, gây phỏng.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Toàn cây nấu nước xông chữa nhức đầu. Nước ép lá dùng nhỏ vào tai hoặc dùng làm thuốc đắp chữa đau tai. Rễ có tính kích thích và chống bệnh hoại huyết, bệnh chảy máu chân răng. Quả non ăn kích thích tiêu hóa. Hạt làm thuốc xoa bóp chữa tê thấp và cũng dùng trị giun. Ở Ấn Ðộ, lá dùng đắp vết thương và loét. Dịch lá dùng trị đau tai.

Tham khảo thêm trong tài liệu tiếng Hoa, Màn màn hoa vàng có tên Hoàng hoa thái. Theo Trung dược đại từ điển, có vị ngọt, tính bình; công năng dưỡng huyết bình can, lợi tiểu tiêu sưng; chủ trị chóng mặt, tai ù, hồi hộp trống ngực, đau lưng, nôn ra máu, chảy máu mũi, xuất huyết đại tràng, thủy thũng, đái buốt, đau họng, sưng vú…

Trung hoa bản thảo lại nói: Vị ngọt, cay, tính ấm, có độc; quy kinh can, bàng quang; công năng tán ứ tiêu thũng, khu phong, giảm đau, sinh cơ chữa mụt nhọt; chủ trị đau sưng do đánh ngã, đau lưng do làm việc quá sức, đau đầu, kiết lỵ, mụt nhọt lở loét, đỉnh vành tai chảy mũ, mắt đau ngứa đỏ, đái đục, bạch đới.

PHAN CÔNG TUẤN