Bản tin Số 06

Chuyên đề

- 5 năm thành lập Trung tâm Học liệu Cần Thơ - Những dấu ấn trên chặng đường phát triển
- Xây dựng kho tài liệu học phần tại Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ đáp ứng nhu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ
- Đánh giá nguồn tài liệu đáp ứng chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ
- Các biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên tại Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ phục vụ chương trình đào tạo học chế tín chỉ
- Đổi mới phương pháp thực tập của ngành Thông tin Thư viện - Đại học Cần Thơ theo học chế tín chỉ
- Những nhận xét đánh giá của người dùng về vai trò của Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ đối với việc tự học, tự nghiên cứu
- Dịch vụ thông tin trọn gói - Sản phẩm phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu của học viên sau đại học Đại học Đà Nẵng
- Một số suy nghĩ từ tọa đàm "Mô tả và truy cập tài nguyên (RDA) và khả năng áp dụng tại Việt Nam"
- Trung tâm Thông tin Học liệu Đại học Đà Nẵng với sưu tập "Văn hóa nghệ thuật Chăm"
- Tiếp cận, sử dụng và khai thác nguồn thông tin y tế của sinh viên Khoa Y Dược - Đại học Đà Nẵng
- Cán bộ thư viện hiện đại và các kỹ năng cần thiết trong môi trường thông tin hiện đại
- Hoạt động dịch vụ thư viện tại Trung tâm Thông tin Học liệu Đại học Đà Nẵng
- Nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ thư viện tại Đại học Huế: Một số giải pháp và đề xuất
- Nâng cao năng lực, phát triển kỹ năng nghề nghiệp của cán bộ thư viện hiện nay
- Liên kết đào tạo – Điểm sáng của Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên
- Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên hỗ trợ đắc lực sinh viên học tập và nghiên cứu theo học chế “tín chỉ”
- Vai trò của cán bộ Dịch vụ Thông tin trong việc định hướng khai thác nguồn tin cho người dùng tại Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Ứng dụng Công nghệ phần mềm trong việc phát triển thư viện

5 năm thành lập Trung tâm Học liệu Cần Thơ - Những dấu ấn trên chặng đường phát triển

Ngày 25-04-2011, Trung tâm Học liệu (TTHL) trường Đại học Cần Thơ kỷ niệm 5 năm thành lập và phát triển. 5 năm là một chặng đường không dài nhưng đủ để TTHL xây dựng được nền tảng phát triển khá vững chắc và tạo được dấu ấn riêng trong lòng đọc giả. Không chỉ vốn tài liệu, trang thiết bị ngày càng được bổ sung, hoàn thiện mà nguồn nhân lực, các dịch vụ cũng ngày càng được nâng chất, đa dạng và phong phú hơn, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng thư viện.

• Về nhân sự:

Trong 5 năm qua, tuy TTHL chịu sự biến động lớn về nhân sự, từ 57 người giảm chỉ còn 44 người do tách Bộ môn Quản trị Thông tin – Thư viện về Khoa Khoa học Xã hội & Nhân văn, một số cán bộ chuyển công tác, nhưng chất lượng nguồn nhân lực vẫn ổn định và được nâng cao thường xuyên, đảm bảo nhu cầu phát triển liên tục của TTHL. Trình độ chuyên môn của cán bộ được nâng cao thông qua các hình thức: tham gia các chương trình đào tạo thạc sĩ trong nước và nước ngoài, học liên thông từ cao đẳng lên đại học, tham gia các khóa đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, tham dự các hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế.

Trình độ chuyên môn của cán bộ được nâng cao thể hiện cụ thể qua các số liệu sau:

Tổ chuyên môn

Nhân sự năm 2006

Tổng số

Nhân sự năm 2011

Tổng số

Tổ Hành chánh

- 2 thạc sĩ

- 5 đại học

- 8 trình độ khác

15 người

- 1 tiến sĩ

- 2 thạc sĩ

- 4 đại học

- 8 trình độ khác

15 người

Tổ Công nghệ Thông tin

- 6 đại học

- 4 cao đẳng

10 người

- 1 đang học thạc sĩ

- 3 đại học

4 người

 

Tổ Tài nguyên Thông tin

- 1 thạc sĩ

- 7 đại học

- 3 cao đẳng

11 người

- 2 thạc sĩ

- 6 đại học & 1 đang học đại học

- 1 cao đẳng

10 người

Tổ Dịch vụ Thông tin

- 1 thạc sĩ

- 14 đại học

- 3 cao đẳng

- 4 trình độ khác

22 người

- 1 thạc sĩ & 4 đang học thạc sĩ

- 5 đại học

- 1 cao đẳng

- 4 trình độ khác

15 người

Thống kê về trình độ học vấn

- 4 thạc sĩ (6,9%)

- 32 đại học (55,2%)

- 10 cao đẳng (17,2%)

- 12 trình độ khác (20,7%)

58 người

 

- 1 tiến sĩ (2,3%)

- 5 thạc sĩ và 5 đang học thạc sĩ (22,7%)

- 18 đại học và 1 đang học đại học (43,2%)

- 2 cao đẳng (4,5%)

- 12 trình độ khác (27,3%)

44 người


Bảng số liệu trên cho thấy, sau 5 năm đi vào hoạt động, nguồn nhân lực của TTHL đã được nâng cao về chất, thể hiện tỉ lệ cán bộ có trình độ sau đại học đã gần đạt mức 25%, tăng gần 20%; tỉ lệ cán bộ có trình độ cao đẳng và đại học hơn 47%. TTHL đang tạo mọi điều kiện để cán bộ được học tập nâng cao trình độ, khuyến khích cán bộ tham gia nghiên cứu khoa học để phát huy khả năng sáng tạo và rèn luyện khả năng làm việc thực tế.

• Về nguồn tài nguyên:

Trong 5 năm qua, TTHL đã bổ sung thêm 61.889 nhan sách trong tổng số 125.250 cuốn, nâng số vốn tài liệu in ấn của TTHL lên 138.000 nhan. Phục vụ đắc lực cho chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ của trường Đại học Cần Thơ, TTHL đã bổ sung tài liệu đáp ứng nhu cầu tham khảo theo đề cương chi tiết của từng học phần giảng dạy trong nhà trường. Về nguồn tài liệu điện tử, TTHL hiện có 14 cơ sở dữ liệu chuyên ngành tiếng Anh và tiếng Việt. Con số này tuy không nhiều do chi phí mua các cơ sở dữ liệu tiếng Anh cao mà hiệu quả sử dụng vẫn còn thấp. Tuy nhiên, TTHL đang tập trung xây dựng nguồn tài liệu số hóa, cụ thể đã xây dựng được bộ sưu tập số gồm 10.000 tài liệu bao gồm luận văn tốt nghiệp loại khá giỏi, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ, tài liệu tham khảo theo yêu cầu của từng học phần giảng dạy tại trường; số hóa tài liệu nghe nhìn. Trong tương lai, TTHL sẽ đẩy mạnh hơn nữa việc số hóa vốn tài liệu để tăng cường khả năng truy cập và sử dụng nguồn tài nguyên, tạo thuận lợi cho người sử dụng.

• Về chương trình hoạt động:

Bên cạnh các dịch vụ cơ bản như dịch vụ tham khảo, hướng dẫn sử dụng thư viện, trong những năm qua, TTHL đã xây dựng được nhiều chương trình hoạt động mang lại tiện ích cho người dùng như dịch vụ cán bộ liên lạc, các lớp đào tạo kỹ năng thông tin, Câu lạc bộ bạn đọc, sân chơi cho sinh viên thông qua các cuộc thi.

Nếu như dịch vụ cán bộ liên lạc chủ yếu tạo dựng mối liên kết với cán bộ thư viện và cán bộ giảng dạy tại các khoa để thu thập ý kiến về việc bổ sung nguồn tài liệu cho phù hợp với nhu cầu học tập và giảng dạy thì Câu lạc bộ bạn đọc thu hút được nhiều bạn đọc tâm huyết đến với TTHL, chủ yếu là các sinh viên. Được thành lập từ năm 2007, giai đoạn ban đầu CLB có gần 100 thành viên tham gia các hội thảo, các buổi sinh hoạt chuyên đề bổ ích do TTHL tổ chức nhằm nâng cao kiến thức, rèn luyện kỹ năng cho sinh viên. Đến nay, các thành viên của CLB Bạn đọc là những tình nguyện viên tích cực, chủ động tham gia nhiều hoạt động hỗ trợ TTHL như hướng dẫn tân sinh viên sử dụng thư viện, hướng dẫn khách tham quan TTHL, scan tài liệu, tham gia trực tại các quầy dịch vụ, v.v… Cùng với lực lượng sinh viên ngành Thông tin – Thư viện luôn gắn bó với TTHL, các em đã trở thành những người bạn thân thiết của thư viện, theo đúng tiêu chí ban đầu mà CLB Bạn đọc đặt ra. Trong tương lai, TTHL sẽ chú trọng nâng cao chất lượng các hoạt động của CLB Bạn đọc, tình nguyện viên theo mô hình “Sinh viên tự quản”, vừa phát huy tính chủ động, tự giác của các em, vừa giúp cán bộ TTHL có thời gian đầu tư vào những công việc chuyên môn, đặc biệt hữu ích trong hoàn cảnh TTHL thiếu hụt nhân sự do cán bộ đang đi học hoặc chuyển công tác.

Sinh viên, lực lượng độc giả chính của TTHL còn gắn bó với thư viện bởi những sân chơi mà TTHL đã tạo ra cho các em. Từ những cuộc thi có quy mô trong Trường Đại học Cần Thơ như “Thi tìm hiểu về Tổ chức Thương mại Thế giới WTO”, “Cách sử dụng hiệu quả Trung tâm Học liệu”, “Tìm hiểu về Hội nghị APEC”, “Sinh viên trường Đại học Cần Thơ và An toàn giao thông” đến những cuộc thi dành cho các sinh viên trong khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) như cuộc thi “Ý tưởng Sáng tạo vì Cộng đồng” được tổ chức 2 lần vào các năm 2008, 2009, cuộc thi “ Sinh viên Đồng hành cùng biến đổi khí hậu năm 2010”. Được hỗ trợ phát triển khả năng sáng tạo, có thể khai thác vốn tài liệu của TTHL vào những đề tài nghiên cứu, sinh viên đã thực sự thấy được vai trò thiết thực của TTHL trong đời sống học tập và nghiên cứu khoa học của các em.

Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ

Là một thư viện hiện đại nhất khu vực ĐBSCL, TTHL Đại học Cần Thơ còn đóng vai trò đầu tàu trong việc tư vấn, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ thư viện trong khu vực. TTHL đã mời các chuyên gia của nước ngoài hay những cán bộ nhiều kinh nghiệm của TTHL tổ chức được nhiều lớp hướng dẫn, tập huấn như tổ chức lớp Hướng dẫn phân loại DDC căn bản và nâng cao cho cán bộ thư viện các trường Đại học vùng ĐBSCL, hội thảo Kỹ năng quản ký thư viện dành cho các lãnh đạo của các thư viện do các chuyên gia của New Zealand chủ trì, lớp Chuẩn biên mục tài liệu Thư viện hiện đại AACR2, MARC21, DDC nâng cao cho hơn 280 cán bộ thư viện đang công tác tại các trường phổ thông và trường trung học chuyên nghiệp trong vùng, hội thảo Chia sẻ kinh nghiệm xin các nguồn tài trợ cho thư viện và xin học bổng học giả Fulbright cho các lãnh đạo thư viện trong khu vực v.v. Các hội nghị, hội thảo, các lớp tập huấn cho cán bộ thư viện vùng ĐBSCL được tổ chức tại TTHL cũng như đem đến tổ chức trực tiếp tại các tỉnh bạn, vừa giúp nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ thư viện trong khu vực, vừa tạo mối dây liên kết chặt chẽ để hợp tác và trao đổi kinh nghiệm.

• Kết luận:

Trên chặng đường 5 năm đầu tiên mà TTHL Trường Đại học Cần Thơ đã đi qua, có nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn, nhưng không thể phủ nhận một điều là lãnh đạo, các cán bộ của TTHL đã nỗ lực hết sức để đạt được thành quả như ngày hôm nay – là một thư viện đại học hàng đầu ở các tỉnh phía Nam. Do khuôn khổ có hạn, bài viết không nêu được hết những điều làm được cũng như chưa làm được của TTHL, mà chỉ là đôi nét phác họa về những thành tựu mang dấu ấn riêng của TTHL Đại học Cần Thơ. Trong những chặng đường tiếp theo, tin rằng TTHL Cần Thơ sẽ tiếp tục phát triển vững mạnh và ngày càng khẳng định thương hiệu của mình, đóng góp tích cực vào sự phát triển giáo dục của đất nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Báo cáo tổng kết hoạt động Trung tâm Học liệu trường Đại học Cần Thơ năm học 2005 - 2006; 2006 - 2007; 2007 - 2008; 2008 - 2009; 2009 - 2010.

Thực hiện: Nguyễn Thị Bích Ngọc
Bộ môn Quản trị Thông tin – Thư viện, Trường ĐH Cần Thơ

Về đầu trang

Xây dựng kho tài liệu học phần tại Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ đáp ứng nhu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ

Trường Đại học Cần Thơ bắt đầu áp dụng học chế tín chỉ từ năm 1995, tuy nhiên chương trình đào tạo hoàn toàn theo học chế tín chỉ mới được bắt đầu từ học kỳ 1 năm học 2007- 2008. Đến nay, sau 3 năm thực hiện, học chế tín chỉ đã đi vào nề nếp, chương trình đào tạo, quy trình quản lý và các quy định liên quan đã được xây dựng khá đầy đủ. Phương pháp giảng dạy của thầy cô giáo và phương pháp học tập của sinh viên cũng dần thích ứng với phương pháp đào tạo mới này. Số giờ lên lớp của giảng viên ít hơn để dành thời gian cho sinh viên tự học, làm bài tập cá nhân, bài tập theo nhóm, thảo luận nhóm nhiều hơn... Tương ứng với 1 giờ trên lớp, sinh viên phải sử dụng 2 giờ chuẩn bị (tự học). Để giúp sinh viên tự học tốt, nhà trường và thư viện cần hỗ trợ trang bị cho các em nguồn tài liệu học tập, tham khảo đầy đủ, đa dạng. Đó là nhiệm vụ của Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ trong bối cảnh mới.

1. Tình hình xây dựng kho tài liệu học phần:

• Tổng quan:

Đào tạo theo học chế tín chỉ có thời gian lên lớp rút ngắn từ 30% - 50% so với trước đây nên trước khi bắt đầu buổi học bắt buộc người học phải nghiên cứu, tìm hiểu nội dung bài học thông qua các tài liệu tham khảo, giáo trình mà giáo viên đã cho trước khi lên lớp. Chính vì vậy, danh mục giáo trình, tài liệu tham khảo là một phần không thể thiếu của một môn học theo học chế tín chỉ.

Xuất phát từ yêu cầu trên, Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ (TTHL ĐHCT) đã bắt tay vào xây dựng nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho các môn học từ khi Trường áp dụng học chế tín chỉ vào chương trình đào tạo.

Kho tài liệu học phần được tổ chức tách biệt với tất cả các kho tài liệu hiện có tại TTHL ĐHCT. Kho tài liệu học phần không phân biệt loại hình tài liệu, bao gồm tất cả các tài liệu có trong danh mục tài liệu tham khảo.

Số lượng học phần theo chương trình 120 tín chỉ tại trường ĐH Cần Thơ (theo Quy chế 43 về đào tạo theo học chế tín chỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo)

TT

Đơn vị

SL ngành đào tạo

Số lượng học phần

Ký hiệu mã học phần

1.

Bộ môn Giáo dục Thể chất

1

141

TC

2. 

Khoa Công nghệ TT & Truyền thông

5

259

CT

3.

Khoa Công nghệ

13

442

CN

4.

Khoa Khoa học Chính trị

1

76

ML

5.

Khoa Khoa học Tự nhiên

4

387

TN

6.

Khoa Khoa học Xã hội & NV

6

652

TV;XH

7.

Khoa Kinh tế & QTKD

12

216

KT

8.

Khoa Luật

3

177

KL

9.

Khoa Môi trường & TNTT

3

203

MT

10.  

Khoa Nông nghiệp & SHUD

14

635

NN

11.  

Khoa Sư phạm

15

634

SP

12.  

Khoa Thủy sản

07

294

AQ;TS

13.  

Trung tâm Giáo dục Quốc phòng

 

36

QP

14.  

Viện NC&PT Công nghệ Sinh học

3

159

BT;CS

15.  

Viện NCPT Đồng bằng sông Cửu Long

1

88

PD

Tổng cộng

88

4.399

 

 

Số lượng tài liệu tham khảo kho học phần: (theo danh mục tài liệu tham khảo trong đề cương chi tiết 120 tín chỉ) thống kê đến tháng 01/2011:

Mã môn học Tổng cộng (nhan) SL có trong kho (nhan) SL chưa có trong kho (nhan)
AQ 83 49 34
BT 196 109 87
CN 1119 977 142
CS 257 151 106
CT 510 280 230
KL 302 204 98
KT 481 292 189
ML 119 78 41
MT 582 439 143
NN 1895 1171 724
PD 270 114 156
QP 2 1 1
SP 1888 1131 757
TC 278 108 170
TN 1171 639 532
TS 557 359 198
TV 178 178 0
XH 1071 661 410
Tổng cộng 10.959 6.941 4.018

 

• Thực trạng

Để đáp ứng được 100% tài liệu tham khảo phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ là một công tác vô cùng quan trọng và cấp thiết. Hiện tại TTHL ĐHCT chỉ đáp ứng được tổng cộng 63% số lượng tài liệu tham khảo. Trong đó các tài liệu chuyên ngành giáo dục thể chất đáp ứng được thấp nhất (39%). Nhìn chung, các ngành còn lại mức độ đáp ứng trong khoảng 60 – 70% lượng tài liệu tham khảo.

Một trong những lý do khó khăn nhất cho việc bổ sung đầy đủ số lượng tài liệu tham khảo là số lượng tài liệu tham khảo ngoại văn chiếm trên 50% số lượng chưa có trong kho. Để bổ sung được nguồn tài liệu này trước tiên cần có một khoản kinh phí khá lớn và mất nhiều thời gian cho việc đặt mua ở nước ngoài. Ngoài ra, một khó khăn nữa là một số tài liệu có năm xuất bản khá lâu nên trên thị trường không còn nữa; vấn đề bản quyền tác giả khi phải nhân bản phục vụ cho nhu cầu học tập của sinh viên.

3. Một số giải pháp hoàn thiện kho tài liệu học phần.

* Hoàn thiện kho tài liệu học phần: Để đáp ứng được đầy đủ số lượng tài liệu trong kho học phần đòi hỏi TTHL đưa ra một kế hoạch cụ thể.

Tranh thủ nguồn tài chính, trong đó bao gồm nguồn tài trợ và ngân sách nhà nước.

Đặt mua từ các nhà cung cấp, chú ý đến tài liệu ở dạng điện tử.

Các tài liệu không còn bán trên thị trường thì liên hệ đến từng giảng viên mượn tài liệu để nhân bản.

* Số hóa kho tài liệu học phần: Vì số lượng sinh viên của mỗi lớp học phần tối thiểu là 25 sinh viên nên số lượng tài liệu tham khảo cũng cần đáp ứng cho từng sinh viên. Tuy nhiên, với nguồn kinh phí hạn hẹp, TTHL chỉ có thể đáp ứng được một phần nhu cầu trên. Giải pháp tối ưu để đáp ứng đầy đủ nhu cầu này là số hóa tài liệu tham khảo và tổ chức lưu trữ và khai thác qua mạng nội bộ hoặc mạng internet.

Để công tác này thực hiện có hiệu quả đòi hỏi TTHL cần đầu tư nguồn nhân lực, trang thiết bị phục vụ cho công tác số hóa tài liệu. Quy trình thực hiện tương tự như quy trình số hóa luận án, luận văn mà TTHL đã thực hiện. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện TTHL cần chú ý một số vấn đề liên quan như:

Vấn đề bản quyền tác giả cần thực hiện đúng với Luật bản quyền;

Chất lượng tài liệu sau khi số hóa;

Dung lượng file điện tử;

Phần mềm quản lý nguồn tài liệu số;

Đường truyền phục vụ khai thác tài liệu số.

Nhìn chung công tác xây dựng kho tài liệu phục vụ đào tạo theo hệ thống tín chỉ là thiết thực và hết sức cần thiết. Để thực hiện được nhanh chóng, có hiệu quả thì cần có sự ủng hộ từ các cấp lãnh đạo, nhất là giải quyết vấn đề kinh phí bổ sung nguồn tài liệu tham khảo này. Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài này tác giả chỉ đề ra một số giải pháp cần thiết trước mắt để góp một phần hoàn thiện nguồn tài nguyên thông tin hiện tại của Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ phục vụ cho nhu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ. (2008, 2009, 2010). Báo cáo nguồn tài liệu tham khảo phục vụ môn học của Trường Đại học Cần Thơ.

Trang, H. T. (2008). Giải pháp của Trung tâm Học liệu trong việc hỗ trợ học tập và giảng dạy theo tín chỉ. Hội thảo “Hệ thống đào tạo tín chỉ: Những trở ngại và khắc phục”.
 

Thực hiện: Võ Duy Bằng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ

Về đầu trang

Đánh giá nguồn tài liệu đáp ứng chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ tại Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ

Đào tạo theo học chế tín chỉ (HCTC) là một xu hướng tất yếu trong hệ thống giáo dục đại học của nước ta hiện nay. Trường ĐH Cần Thơ là đơn vị tiên phong của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long thực hiện mục tiêu giáo dục chung này. Để chuyển đổi sang mô hình đào tạo mới, Trường phải thỏa mãn các điều kiện cần về cán bộ giảng dạy, ban chỉ đạo, chương trình đào tạo theo HCTC, đề cương chi tiết môn học cụ thể,… cũng như các điều kiện đủ về cơ sở vật chất, thư viện, máy tính,… Điều 12, tiêu chuẩn 9 trong “Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục Trường Đại học” được ban hành kèm theo quyết định số: 65/2007/QĐ-BGD ĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD &ĐT có ghi: “Thư viện của trường đại học phải có đủ sách, giáo trình, tài liệu tham khảo tiếng Việt và tiếng nước ngoài đáp ứng yêu cầu sử dụng của cán bộ, giảng viên và người học. Có thư viện điện tử được nối mạng, phục vụ dạy, học và nghiên cứu khoa học có hiệu quả”. Vì vậy, Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ đã không ngừng củng cố và tăng cường phát triển nguồn tài liệu để phục vụ cho nhu cầu học tập và giảng dạy của sinh viên và cán bộ trong và ngoài trường.

Với mục tiêu xác định mức độ thỏa mãn và phù hợp về số lượng lẫn chất lượng của nguồn tài liệu của TTHL trong quá trình phục vụ đào tạo HCTC của nhà Trường, bài viết chủ yếu đưa ra một số nhận xét đánh giá về thực trạng nguồn tài liệu và mức độ đáp ứng nhu cầu về tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập theo HCTC tại Trường.

* Sự phát triển và sự phong phú của nguồn tài liệu:

o Tài liệu in ấn:

- Sách tham khảo, giáo trình, luận văn, …

Năm học

Số sách bổ sung

2007 – 2008

12.444 nhan # 26.040 cuốn

2008 – 2009

9.134 nhan # 19.457 cuốn

2009 – 2010

12.809 nhan # 25.776 cuốn

 

-  Báo – Tạp chí có 226 tên báo và tạp chí tiếng Việt, 113 tạp chí JDP và 169 tạp chí ngoại văn được tặng.

-  Tài liệu đa phương tiện: 4.264 tài liệu

o  Tài liệu điện tử đến năm 2010:

Bộ sưu tập

Số lượng

Tài liệu học phần (theo tín chỉ) tại Trường

600 tài liệu

Luận văn sau đại học

1.319 tài liệu

Luận văn đại học (loại khá, giỏi)

4.245 tài liệu

Đề tài NCKH vùng ĐBCSL

857 tài liệu

Bài báo phục vụ theo chuyên ngành đào tạo

1.526 tài liệu

Tạp chí khoa học chuyên ngành

1.341 tài liệu

 

o  Cơ sở dữ liệu điện tử: nguồn tài nguyên điện tử của TTHL bao gồm các CSDL ProQuest, Hinari, Agora, Teeal,...

* Đánh giá dựa trên sự phát triển và sự đầy đủ của nguồn tài liệu:

o Mức độ toàn diện: bao gồm tất cả các chủ đề, môn loại, lĩnh vực khoa học và ngành học khác nhau, dạng in ấn, điện tử, dạng thông tin thư mục, dạng toàn văn đều được phát triển đồng bộ.

o Mức độ nghiên cứu: nguồn tài liệu bao gồm những công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án, bài báo khoa học phục vụ tốt cho sinh viên trong học tập / nghiên cứu và giảng dạy.

o Mức độ tài liệu hỗ trợ phục vụ học tập / giảng dạy: nguồn tài liệu tại TTHL tập trung và phát triển đầy đủ các tài liệu hỗ trợ cho học tập / giảng dạy của sinh viên và giảng viên trong trường: giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ học phần tín chỉ.

o Mức độ phát triển: không ngừng gia tăng về số lượng lẫn chất lượng của nguồn tài liệu.

Bộ sưu tập tài liệu học phần (theo tín chỉ): đây là điểm mới và đang trên đà phát triển mạnh nhất trong sự phát triển nguồn học liệu tại TTHL. Dựa theo yêu cầu của chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ của nhà trường, mỗi học phần bắt buộc phải có ít nhất 3 tài liệu tham khảo phục vụ cho một học phần. Vì vậy, TTHL đã kết hợp với Phòng Đào tạo trường sưu tập và xây dựng Kho tài liệu phục vụ học phần cho sinh viên và cán bộ giảng dạy dưới dạng in ấn và dạng số hóa toàn văn. Đây là cầu nối quan trọng giúp sinh viên tiếp cận chính xác và trực tiếp đến tài liệu phục vụ học tập của mình, đảm bảo mọi sinh viên đều có thể tiếp cận tài liệu tham khảo dưới dạng số hóa mà không phải mất nhiều thời gian.

* Đánh giá dựa trên mức phù hợp và mức độ sử dụng tài liệu của người dùng tin:

Dựa vào số liệu thống kê ở bộ phận dịch vụ chúng ta có thể đánh giá sự phù hợp của tài liệu và mức độ sử dụng tài liệu của người dùng tin

o Thống kê vòng quay trung bình của 01 tài liệu: Số vòng quay trung bình của một tài liệu biểu thị mức độ sử dụng kho tài liệu của thư viện, là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sự phù hợp của nguồn tài liệu so với nhu cầu của người sử dụng.

Năm học

Tổng số tài liệu

Số vòng quay sách/năm

Số vòng quay trung bình của 01 tài liệu

2007-2008

215.910

1.832.856

8,5

2008-2009

235.367

2.239.488

9,5

2009-2010

261.143

2.058.444

7,9

 

Qua số liệu thống kê cho thấy số vòng quay trung bình của một tài liệu từ năm 2008 – 2009 tăng 11,7%, và từ năm 2009– 2010 đã giảm –16,8%. Mỗi năm nguồn tài liệu được bổ sung tăng lên cùng với sự gia tăng về số lượt thẻ cấp cho người sử dụng và số lượt người dùng tin đến sử dụng thư viện, tuy nhiên số vòng quay trung bình của sách có tăng lên năm 2008 – 2009 nhưng lại giảm xuống ở năm học 2009 – 2010. Nguyên nhân giảm xuống là do chính sách sử dụng TTHL thay đổi nên số lượng độc giả giảm xuống.

o Thống kê chỉ số sách trung bình cho một bạn đọc: xác định số lượng tài liệu của TTHL có đủ phục vụ cho người dùng tin hay không

Năm học

Tổng số bạn đọc

Tổng số tài liệu

Chỉ số trung bình TL/ bạn đọc

2007-2008

28.199

215.910

7,7

2008-2009

30.226

235.367

7,8

2009-2010

30.262

261.143

8,6

 

Chỉ số trung bình một tài liệu/bạn đọc hằng năm đều tăng. Tổng số tài liệu tăng tỉ lệ thuận với số lượng bạn đọc của TTHL, năm 2008 – 2009 tăng 1,3% và năm 2009 – 2010 tăng 10,3 %. Qua thống kê số liệu cho thấy nguồn tài liệu được bổ sung đáp ứng đầy đủ hơn về mặt số lượng tài liệu để phục vụ tốt hơn cho sinh viên và giảng viên.

o Thống kế số lượng thẻ được cấp và số lượt độc giả đến sử dụng TTHL:

Năm học

SL độc giả đến TTHL

Số vòng quay của sách

Thẻ cấp

2007 – 2008

610.952 lượt

1.832.856

7.732

2008 – 2009

746.496 lượt

2.239.488

8.303

2009 – 2010

686.148 lượt

2.058.444

8.602

 

Tuy nhiên, số lượng thẻ được cấp cho sinh viên ngày càng tăng nhưng số lượng bạn đọc đến TTHL và số vòng quay của sách lại giảm. Năm 2008 – 2009 so với năm 2007- 2008 số thẻ cấp tăng 7,4%; đến năm 2009 – 2010 tăng 3,5% thẻ cấp cho sinh viên. Số vòng quay của sách và số lượt bạn đọc đến TTHL tăng 22% năm 2008 – 2009 và giảm -8,1% năm 2009 - 2010.

* Đánh giá dựa trên mức độ phù hợp và mức độ sử dụng nguồn tài liệu:

Nguồn tài liệu đảm bảo về số lượng phục vụ nhu cầu học tập của sinh viên và cán bộ giảng dạy. Mức độ trung bình tài liệu/bạn đọc tương đối cao.

Nguồn tài liệu được bổ sung hằng năm tăng lên cùng với số lượng bạn đọc đến sử dụng TTHL nhưng số vòng quay của sách không tăng. Vì vậy, TTHL cần phải xem xét lại mọi khía cạnh làm ảnh hưởng đến chất lượng kho tài liệu và mức độ phù hợp của kho tài liệu với nhu cầu của sinh viên và cán bộ trong Trường; công tác của bộ phận liên lạc trong quá trình thu thập những tài liệu cần bổ sung; chính sách thanh lọc những tài liệu lỗi thời và không còn giá trị sử dụng.

* Nhận xét:

o Ưu điểm:

Nguồn tài liệu tại TTHL ĐHCT có sự đa dạng về nội dung và loại hình tài liệu; phạm vi bao quát các ngành khoa học, chuyên ngành đào tạo; có cả hình thức in ấn và điện tử…

TTHL ĐHCT nhận được sự tài trợ từ rất nhiều nguồn dự án khác nhau nên kinh phí dành cho bổ sung tài liệu là rất lớn. Ngoài ra, nguồn tài liệu nhận tặng từ các cơ quan, tổ chức nước ngoài khá lớn về số lượng.

Số lượng cán bộ, sinh viên của trường khá đông và tích cực quan tâm về nguồn tài liệu học tập, giảng dạy - điều đó đã góp phần vào công tác bổ sung phù hợp với nhu cầu thực tế.

TTHL đã làm tốt công tác quảng bá nguồn tài liệu cũng như tạo mọi điều kiện để người dùng tin có thể tiếp cận đến tài liệu ở dạng in ấn lẫn số hóa.

o Nhược điểm:

Hiện tại TTHL vẫn chưa có một chính sách bổ sung chính thức cho đơn vị của mình, vì vậy đã tạo nên một số khó khăn trong việc bổ sung và thanh lọc tài liệu; chưa xây dựng được một kế hoạch đánh giá nguồn tài liệu tại TTHL theo định kỳ cụ thể.

* Kiến nghị:

TTHL cần đẩy mạnh các dịch vụ thông tin nhằm tăng vòng quay của tài liệu. Để làm được điều đó TTHL phải thường xuyên nâng cao chất lượng của nguồn tài liệu bằng cách:

o Nhanh chóng xây dựng một chính sách bổ sung cụ thể, rõ ràng nhằm hạn chế tối đa việc bổ sung không đúng diện, đúng nhu cầu của bạn đọc. Chính sách bổ sung cần bám sát vào tài liệu phục vụ học phần giảng dạy của Trường.

o Thường xuyên tiến hành thanh lọc những tài liệu đã lỗi thời, lạc hậu và không còn giá trị sử dụng.

o Tổ chức nghiên cứu, khảo sát và thu thập ý kiến đóng góp của người dùng tin để phát triển nguồn tài liệu của TTHL.

o Hoàn chỉnh về mặt kỹ thuật số hóa và tiếp tục phát triển nguồn tài liệu tham khảo dưới dạng số để phục vụ cho học tập và đào tạo của cán bộ và sinh viên trong trường.

o Phải đặt ra định kỳ đánh giá nguồn tài liệu: 1 năm, 2 năm, … thì tiến hành đánh giá nguồn tài liệu 1 lần.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ. (2007, 2008, 2009, 2010). Báo cáo tổng kết hoạt động của Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ.

Viết, L. V. (2000). Cẩm nang nghề Thư viện. Hà Nội: Văn hóa Thông tin.

Thực hiện: Võ Duy Bằng, Võ Thị Bạch Trúc
Trung tâm Học liệu Trường ĐH Cần Thơ

Về đầu trang

Các biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên tại Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ phục vụ chương trình đào tạo học chế tín chỉ

Hơn 3 năm qua kể từ khi trường Đại học Cần Thơ chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ và đến nay, chương trình đã dần đi vào ổn định. Vai trò hỗ trợ của Trung tâm Học liệu (TTHL) đối với hình thức đào tạo này cũng ngày càng được khẳng định. Với nguồn lực vật chất hiện đại, nguồn tài nguyên phong phú, nguồn nhân lực có chất lượng, TTHL Đại học Cần Thơ đang tăng cường đề ra các biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên phục vụ cho mô hình đào tạo theo học chế tín chỉ (HCTC) của nhà trường.

Học chế tín chỉ là gì? - HCTC là một hình thức đào tạo được hầu hết các nước tiên tiến trên thế giới áp dụng vì nó phân chia kiến thức đào tạo thành những đơn vị học tập mà sinh viên (SV) có thể tự sắp xếp để tích lũy được ở những thời gian và không gian khác nhau. Tùy điều kiện của mỗi người, người học có thể học nhanh hơn hay muộn hơn so với tiến độ bình thường, có thể thay đổi chuyên ngành học ngay giữa tiến trình học tập mà không phải học lại từ đầu. HCTC còn tạo ra một "ngôn ngữ chung" giữa các trường đại học, tạo điều kiện cho việc chuyển đổi SV giữa các trường trong nước và trên thế giới, rất thuận lợi trong các chương trình đào tạo liên kết.

Học theo mô hình này, sinh viên phải tự học nhiều hơn. Để tiếp thu được 1 tín chỉ, sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ tự học. HCTC hướng đến sự thay đổi lớn phương cách, thói quen dạy - học của người dạy lẫn người học. HCTC giảm khối lượng giờ giảng trên lớp, khuyến khích tự học, đòi hỏi SV phải có chiến lược học tập, xây dựng kế hoạch học tập và đăng ký môn học theo khả năng học tập, nhu cầu ngành học và hoàn cảnh kinh tế của mình. Giảng viên phải thay đổi phương pháp giảng dạy để khuyến khích tính chủ động của người học. Ngoài ra, HCTC đòi hỏi môi trường tự học với các phương tiện đa dạng hỗ trợ người học như giáo trình tốt, website điện tử, lực lượng trả lời thắc mắc tại các Khoa.

Muốn sự thay đổi có hiệu quả từ cách dạy và học thì trước hết cần môi trường tự học, tự nghiên cứu - và TTHL có thể đáp ứng những yêu cầu đó.

Với vai trò phục vụ đắc lực cho công tác đào tạo theo HCTC của nhà trường, Trung tâm Học liệu đã và đang tập trung phát huy tiềm năng và khả năng vốn có, tạo mọi điều kiện để độc giả sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên của Trung tâm phục vụ cho học tập, nghiên cứu, giảng dạy. Để đem lại hiệu quả thiết thực, trước hết cần thực hiện một số biện pháp sau:

• Xây dựng nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng:

Vốn tài liệu in ấn: 107.577 nhan đề, tương đương 235.367 cuốn, trong đó tài liệu tiếng Anh chiếm 50,65%, tài liệu tiếng Việt chiếm 41,50% còn lại là các tài liệu khác. Kho báo tạp chí có 226 tên báo và tạp chí tiếng Việt, 113 tạp chí JDP và 169 tạp chí ngoại văn được tặng từ các tổ chức trên thế giới.

Xây dựng và số hóa kho tài liệu tham khảo các học phần của tất cả 85 chuyên ngành được đào tạo tại Đại học Cần Thơ.
Số lượng tài liệu đa phương tiện là 4.939 tài liệu (Bao gồm băng từ VCD, CD, DVD, bản đồ,….); có truyền hình cáp phục vụ học ngoại ngữ.

Với 15 cơ sở dữ liệu (CSDL) khoa học điện tử thuộc nhiều lĩnh vực như cơ sở dữ liệu ProQuest Central, Ebsco Host, Greenfile,…CSDL báo, tạp chí tiếng việt thuộc nhiều lĩnh vực được các giảng viên uy tín của nhà trường thẩm định. Đặc biệt, có những cơ sở dữ liệu đặc thù như: Đề tài nghiên cứu Khoa học Đồng bằng Sông Cửu Long giai đoạn 1994-2004. Bên cạnh đó, trong tương lai gần, TTHL cần đầu tư công sức xây dựng các bộ sưu tập tài liệu mang tính độc đáo, riêng biệt mang đặc trưng Đồng bằng sông Cửu Long như: Văn hóa các dân tộc, ẩm thực, nhạc cụ,….; tìm kiếm bổ sung những website, CSDL miễn phí có giá trị khoa học cao, phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu để làm phong phú thêm CSDL điện tử của Trung tâm

• Tăng cường công tác hướng dẫn, đào tạo kỹ năng thông tin

Công tác hướng dẫn sử dụng thư viện giúp sinh viên khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên và dịch vụ sẵn có trong thư viện chủ động và tự tin hơn. Công tác này được thực hiện vào đầu mỗi năm học dành cho đối tượng chủ yếu là các tân sinh viên.

Công tác đào tạo kỹ năng thông tin nhằm giúp phát triển kỹ năng tìm, đánh giá và sử dụng thông tin phục vụ cho nhu cầu học tập và nghiên cứu lâu dài của người dùng. Các lớp đào tạo kỹ năng được mở thường xuyên và theo yêu cầu của độc giả, thông thường khoảng 20 học viên/lớp với 3 cấp lớp có trình độ từ cơ bản đến nâng cao. Năm 2010, TTHL tổ chức được 15 lớp đào tạo kỹ năng thông tin cho 220 học viên là sinh viên, cán bộ, học viên cao học và độc giả ngoài trường.

• Nâng cao chất lượng của nguồn tài nguyên thông tin

Muốn có nguồn tài nguyên có chất lượng đòi hỏi nguồn cán bộ phải có năng lực chuyên môn, có tinh thần phục vụ cao và qui trình làm việc khoa học, đạt tiêu chuẩn. Hiện nay TTHL Đại học Cần Thơ đang sử dụng chuẩn biên mục AACR2 trên khổ mẫu MARC21, trên phần mền ILIB4.0; sử dụng Bộ tiêu đề chủ đề của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ. Cơ sở dữ liệu trên ILIB4.0 thường xuyên được sửa chữa nâng cấp; các tài liệu phục vụ học các học phần được đào tạo tại ĐHCT, các tạp chí, luận văn thạc sĩ, tiến sĩ được số hóa và và hiển thị dưới dạng list book.

• Tăng cường công tác quản lý và nâng cao vai trò của giáo viên trong công tác học chế tín chỉ

Bên cạnh việc tăng cường xây dựng nguồn tài liệu phong phú đa dạng, nâng cao chất lượng tài liệu và hỗ trợ kỹ năng cho độc giả của TTHL, nhà trường cần đảm bảo chất lượng đội ngũ cán bộ giảng viên và phương pháp giảng dạy; điểm tuyển sinh đầu vào và phương pháp học tập của sinh viên, công tác tổ chức đào tạo của Nhà trường. Bởi việc dạy và học theo HCTC cần có sự đổi mới thực sự trong phương cách, thói quen dạy - học của người dạy lẫn người thầy. Muốn thế, chính người thầy phải cải tiến phương pháp giảng dạy trước tiên để tạo đà cải tiến ở các khâu khác có liên quan. Người thầy phải đầu tư để nâng cao chất lượng bài giảng, bài nghiên cứu khoa học và hướng sinh viên tiếp cận các nguồn tài nguyên có chất lượng tại Trung tâm Học liệu.

Để nâng cao vai trò của giảng viên cần tạo nguồn động lực cụ thể như: Khen thưởng về những nỗ lực thiết kế đề cương môn học, cải tiến các hoạt động học tập, thực hiện đánh giá liên tục, hướng dẫn sinh viên, cập nhật kỹ năng và kiến thức chuyên ngành.

Phương pháp giảng dạy khuyến khích sự chủ động, tích cực của người học trong việc tìm kiếm, khai thác thông tin, tăng cường thảo luận, làm việc theo nhóm,…sẽ góp phần rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên Trung tâm Học liệu và thực hiện thành công công tác đào tạo theo học chế tín chỉ của trường Đại học Cần Thơ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bằng, V. D. (2010). Nâng cao chất lượng hoạt động thông tin thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ tại ĐH Cần Thơ.

Thành, T. C. (2006). Vai trò thư viện đại học trong việc phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học. TP. Hồ Chí Minh.

Trường Đại học Cần Thơ, Hoạt động của trường. Truy cập ngày 30/03/2011, từ:
http://websrv.ctu.edu.vn/intro_det.php?mn=2&id=18

Zjhra, M., & Ly, P. T. (Dịch). (2009). Chuyển sang học chế tín chỉ: Cần thay đổi chương trình đào tạo và vai trò của giáo viên. TP. Hồ Chí Minh.

Thực hiện: Võ Văn Mấy Năm
Trung tâm Học liệu Trường ĐH Cần Thơ

Về đầu trang

Đổi mới phương pháp thực tập của ngành Thông tin Thư viện - Đại học Cần Thơ theo học chế tín chỉ

Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT) ra đời năm 2006 nhằm mục tiêu xây dựng một môi trường học tập nghiên cứu tốt nhất cho sinh viên ĐHCT nói chung và là nơi thực tập lý tưởng cho sinh viên ngành Thông tin Thư viện nói riêng. Theo sự chỉ đạo của nhà trường, năm học 2009 – 2010, Trung tâm Học liệu và bộ môn Thông tin Thư viện đã xây dựng một mô hình thực tập mới theo học chế tín chỉ. Quá trình thực tập của sinh viên được thực hiện qua 3 học kỳ thay vì chỉ trong 1 học kỳ cuối và thực tập tập trung tại Trung tâm Học liệu (TTHL). Đây là một mô hình thực tập mới giúp sinh viên nắm vững và có cơ hội vận dụng những kiến thức lý thuyết chuyên ngành ngay trong quá trình học, tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn khi đi làm việc sau này.

Tổng số giờ mỗi sinh viên phải tham gia thực tập tại TTHL để hoàn thành học phần này là 320 giờ. Trong đó, số giờ phân bổ cho mỗi công việc cụ thể như sau:

TT

Nội dung thực tập

Tên viết tắt

Giờ

1

Phục vụ bạn đọc tại Cổng vào TTHL

PV Cổng vào TTHL

10

2

Công tác khác tại phòng IS

Công tác khác (IS)

10

3

Phục vụ bạn đọc tại Quầy Lưu hành

PV Quầy lưu hành

30

4

Phục vụ bạn đọc tại Quầy tham khảo

PV Q. tham khảo

30

5

Phục vụ bạn đọc tại Phòng Nghe nhìn

PV P. Nghe nhìn

30

6

Phục vụ bạn đọc tại Phòng Báo tạp chí

PV P. Báo tạp chí

30

7

Công tác Cán bộ Liên lạc

CT Liên lạc

20

8

Công tác bổ sung vốn tài liệu

CT bổ sung Tliệu

20

9

Công tác Xử lý kỹ thuật

CT Xử lý KThuật

20

10

Công tác số hóa

CT Số hóa

10

11

Công tác báo tạp chí

CT Báo tạp chí

10

12

Công tác phân loại

CT Phân loại

30

13

Công tác mô tả

CT mô tả

20

14

Hỗ trợ kỹ thuật IT

Hỗ trợ IT

50

Tổng thời gian

320

 


Nội dung thực tập được phân cho từng mảng công việc cụ thể và thời gian thực tập tại mỗi bộ phận ít hay nhiều phụ thuộc vào mức độ quan trọng và phức tạp của công việc. Tuy nhiên, sinh viên có thể đăng ký thực tập chuyên sâu ở một bộ phận mà mình yêu thích như số hóa, biên mục hay công tác bạn đọc v.v. Kế hoạch thực tập được công bố rõ ràng trên trang web của TTHL nhằm tạo điều kiện cho sinh viên dễ dàng sắp xếp giờ học trên lớp và thực hành. Phần công việc cụ thể sinh viên sẽ làm tại mỗi bộ phận như sau:

Công tác sinh viên thực tập tại phòng IT

1. Hỗ trợ người dùng: hỗ trợ kỹ thuật, xử lý báo cáo thống kê, di chuyển máy tính, kiểm tra cập nhật lại thiết bị, vệ sinh máy tính.

2. Xử lý tài nguyên số: kiểm tra dữ liệu số, viết tài liệu hướng dẫn người dùng.

3. Nghiên cứu các phần mềm mã nguồn mở.

4. Nghiên cứu bảo mật hệ điều hành Ubuntu với độ an toàn người dùng trong Internet.

Công tác sinh viên thực tập tại phòng IS

1. Quầy Lưu hành: cho mượn - trả tài liệu.

2. Quầy Tham khảo: hướng dẫn bạn đọc sử dụng máy tính, tìm kiếm thông tin và tài liệu phục vụ việc học tập và nghiên cứu.

3. Quầy Báo - Tạp chí: phục vụ bạn đọc về mảng báo tạp chí.

4. Quầy Nghe nhìn (AV): hướng dẫn cho cho bạn đọc sử dụng các tài liệu số và nghe nhìn.

Công tác sinh viên thực tập tại phòng IR

1. Bổ sung tài liệu: đặt và bổ sung tài liệu trên phần mềm Ilib.

2. Xử lý kỹ thuật sách trước khi phục vụ bạn đọc.

3. Mô tả, phân loại tài liệu theo đúng chuẩn MARC21, AACR2, DDC.

4. Scan, số hóa tài liệu và xây dựng bộ sưu tập số.

Việc đăng ký thực tập được thực hiện trực tiếp trên website:

Giao diện đăng ký thực tập trên website của TTHL

Phần mềm cho sinh viên đăng ký thực tập trên website của TTHL có nhiều tính năng tiện ích như: cho phép sinh viên thay đổi lịch đăng ký, kiểm tra số giờ thực tập, xem xét kết quả đánh giá ở mỗi buổi, nhận e-mail thông báo tổng số giờ đã thực hiện. Cố vấn học tập của mỗi lớp sẽ là người hướng dẫn sinh viên những quy định, theo dõi tiến độ thực tập và báo cáo những khó khăn để Bộ môn đưa ra giải pháp kịp thời.

Việc thực tập trong 3 học kỳ cuối giúp sinh viên có thể tận dụng tối đa thời gian rảnh rỗi trong quá trình học lý thuyết và đẩy nhanh tiến độ ra trường. Sinh viên có thể đăng ký thực tập vào những giờ trống trong cùng 1 học kỳ, giúp vận dụng ngay các kiến thức chuyên ngành vừa học trên lớp vào thực tế. Đối với sinh viên thực tập trong học kỳ cuối thì không thể tận dụng được thời gian rảnh trong quá trình học, các kiến thức lý thuyết vừa học chưa được áp dụng ngay. Cách thực tập này cũng giúp cán bộ TTHL có thể hướng dẫn sinh viên chu đáo hơn vì số lượng đăng ký thực tập của sinh viên cho mỗi buổi là không quá đông. Nếu chỉ giới hạn trong 1 học kỳ, có thể sẽ rơi vào trường hợp cùng 1 buổi, 1 cán bộ phải hướng dẫn cùng lúc nhiều sinh viên, như vậy cán bộ hướng dẫn sẽ khó có thể chỉ dẫn một cách chu đáo, sinh viên khó đạt hiệu quả cao trong quá trình thực tập.

Mô hình thực tập này không chỉ giúp sinh viên sớm có cơ hội cọ xát thực tế trong một môi trường thư viện hiện đại, chuyên nghiệp mà còn giúp các em rèn luyện khả năng làm việc độc lập, tự tin với trình độ chuyên môn được nâng cao khi bắt đầu ra trường đi làm chính thức.

Ưu điểm của quá trình thực tập theo Học chế Tín chỉ

1. Thời gian thực tập 3 học kỳ, được tham gia vào công việc hằng ngày của cán bộ TTHL đã mở ra cho sinh viên thực tập nhiều cơ hội tiếp cận thực tế, học hỏi và tạo dựng thêm được nhiều mối quan hệ với các anh chị đồng nghiệp và độc giả.

2. Giúp cho sinh viên có điều kiện thực hành sớm và có thể sắp xếp kế hoạch thực tập linh động, giảm tải áp lực cho học kỳ cuối.

3. Bên cạnh việc thực tập có tính điểm học phần, TTHL vẫn tạo cơ hội cho sinh viên Thư viện làm việc bán thời gian song song. Điều này vừa giúp các em có thêm thu nhập vừa tích lũy thêm được nhiều kinh nghiệm.

4. Sinh viên ngành Thông tin – Thư viện đang thực tập chuyên ngành là lực lượng hỗ trợ khá tích cực cho TTHL bên cạnh đội ngũ sinh viên tình nguyện.

5. Giảm bớt chi phí cho sinh viên nếu phải đi thực tập xa nhà.

Điểm hạn chế của quá trình thực tập theo Học chế Tín chỉ

Vì đây là hình thức thực tập mới nên còn một số hạn chế cần lưu ý như sau:

1. Cán bộ hướng dẫn không thể chủ động về mặt thời gian khi hướng dẫn thực tập cho sinh viên vì sinh viên có quyền đăng ký thực tập bất cứ lúc nào trong 3 học kỳ cuối. Cán bộ hướng dẫn cũng mất rất nhiều thời gian vì phải hướng dẫn lại nhiều lần cùng một kiến thức cho nhiều sinh viên.

2. Thời gian thực tập kéo dài, đôi khi sinh viên sẽ chịu nhiều áp lực trong quá trình học vì phải học lý thuyết song song với việc thực tập.

3. Để áp dụng được mô hình thực tập này cần có môi trường thực tập thường xuyên và ổn định, cơ sở vật chất đầy đủ. Vào mỗi buổi, mỗi bộ phận chỉ tiếp nhận được một số lượng sinh viên thực tập có giới hạn nên nhiều sinh viên không đăng ký thực tập được xuyên suốt như dự định.

4. Tất cả sinh viên ngành Thông tin – Thư viện chỉ tiếp cận chủ yếu với môi trường làm việc tại TTHL mà không có điều kiện thực tập tại các loại hình thư viện khác.

Kết luận

Hiện nay mô hình thực tập theo học chế tín chỉ của ngành Thông tin Thư viện tại Trung tâm Học liệu – Đại học Cần Thơ đã có những thành công bước đầu và dần đi vào quỹ đạo, giúp sinh viên ngành Thông tin Thư viện có thể tích lũy nhiều kinh nghiệm thực tiễn ngay trong quá trình học và có thể rút ngắn thời gian đào tạo.

Đây là mô hình thực tập mới, có điều kiện thuận lợi để triển khai khi TTHL là chiếc nôi khai sinh ra ngành học Quản trị Thông tin – Thư viện tại Đại học Cần Thơ và là một môi trường thư viện hiện đại nhất Đồng bằng Sông Cửu Long. Mô hình mới nào cũng cần thời gian thử thách và rút kinh nghiệm, hy vọng hình thức thực tập tích lũy ngay trong quá trình học này sẽ ngày được hoàn thiện hơn, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả sinh viên và Trung tâm Học liệu.

Thực hiện: Phạm Lê Giang
Trung tâm Học liệu Trường ĐH Cần Thơ

Về đầu trang

Những nhận xét đánh giá của người dùng về vai trò của Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ đối với việc tự học, tự nghiên cứu

Tóm tắt: Bài viết trình bày những nhận xét đánh giá của sinh viên về vai trò của Trung tâm Học liệu (TTHL), trường Đại học Cần Thơ (ĐHCT) trong việc hỗ trợ sinh viên tự học, tự nghiên cứu thông qua các báo cáo của cán bộ và sinh viên trong hội nghị “Đánh giá tình hình sử dụng 2 tiết tự học của sinh viên” được tổ chức vào tháng 1/2011. Đồng thời, tác giả đưa ra những giải pháp giúp sinh viên sử dụng giờ tự học, tự nghiên cứu tại TTHL có hiệu quả hơn.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Phương châm làm việc của TTHL là tạo điều kiện tối ưu phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên cứu của cán bộ và sinh viên trong và ngoài trường. Theo báo cáo tổng kết năm học 2009-2010, TTHL đã thu hút 2.000–2.500 lượt bạn đọc/ ngày; tài liệu mượn là 686.148 lượt/ năm; mượn tài liệu 2.058.444 lượt/ năm. Thống kê cho thấy hiệu quả sử dụng TTHL rất cao; còn chất lượng phục vụ thì sao? Thực tế, TTHL đã thu nhận ý kiến từ nhiều kênh khác nhau: diễn đàn của trường, phiếu điều tra và bảng câu hỏi trực tuyến trên website của TTHL. Đặc biệt, trong tháng 1/2011, nhà trường đã tổ chức Hội nghị đánh giá 2 giờ tự học của sinh viên với 28 bài viết từ các cán bộ giảng dạy, cố vấn học tập và sinh viên. Đây là cơ sở quan trọng để TTHL tự nhìn lại, đánh giá hiệu quả sử dụng một cách khách quan.

II. THỰC TRẠNG: Có 3 vấn đề cán bộ và sinh viên đề cập:

1. Mức độ sử dụng TTHL: Trong 28 bài báo cáo có 3 bài nêu rõ mức độ sử dụng TTHL. Ở Khoa Thủy sản , 65,5% sinh viên ít đến TTHL, 51.7% không rõ nguồn sách và hoàn toàn không biết tài liệu có đủ phục vụ cho việc tự học hay không. Bên cạnh đó, Cô Phạm Thị Vân, Bộ môn Kỹ thuật cơ khí nhận xét: “Mặc dù thư viện trường rất tốt và rất đủ điều kiện nhưng sinh viên tự học ở thư viện còn ít (55,4%), số còn lại tự học ở phòng học, ở nhà.” ( tr. 35) và Thầy Trần Trung Tính, Khoa Công Nghệ cho rằng trong 281 sinh viên, 91 sinh viên chọn 2 giờ tự học ở Thư viện. Từ đó, chúng tôi tự hỏi vì sao TTHL đã được trang bị rất hiện đại, máy tính kết nối mạng Internet, nơi học rất thoải mái, dễ chịu mà lượng người sử dụng vẫn chưa cao?

Năm 2010, Trường ĐHCT có 12 Khoa, 1 Bộ môn trực thuộc trường, 03 Viện và 8 Trung tâm. Trong 23.987 sinh viên Đại học và Cao đẳng hệ chính quy và 2.147 học viên cao học và nghiên cứu sinh có 15.177 bạn đọc tự nguyện (58%). Theo báo cáo năm 2010, sinh viên Khoa Kinh tế, Khoa Sư phạm, Khoa Khoa học xã hội & Nhân văn đến TTHL nhiều nhất, trong khi đó sinh viên Khoa Khoa học tự nhiên, Khoa Môi trường và Khoa Thủy sản ít vào TTHL. Điều này hoàn toàn phù hợp với các ý kiến phản ánh ở trên.

Bảng thống kê số lượng sinh viên vào sử dụng TTHL theo Khoa (tháng1-9/2010)

2. Nguồn học liệu: Cô Lê Thị Nguyệt Châu, Khoa Luật có nêu: “Nhà trường nên quan tâm tăng cường học liệu, có thể dựa vào các dự án để mua bản quyền và dịch tài liệu tham khảo cho cán bộ và sinh viên” (tr. 42). Viện Nghiên Cứu và Phát triển ĐBSCL cho rằng: “Tài liệu giảng dạy cần đa dạng và phong phú để phục vụ việc tự học tập cho sinh viên, nhưng nhiều giảng viên chưa cập nhật tài liệu mới cho học phần mà mình giảng dạy” (tr. 103). Thầy Đinh Minh Quang, Khoa Công Nghệ cho rằng “Nhà trường nên tăng số lượng sách, đặc biệt là sách ngoại văn, tăng thời gian mượn sách nhằm giúp sinh viên có nhiều thời gian nghiên cứu tài liệu và làm bài tập” (p. 28). Ở Khoa Thủy sản, 86.2% sinh viên tự nhìn nhận hạn chế của bản thân là ít vốn ngoại ngữ khi tiếp cận nguồn tài liệu, mặc dù họ biết rằng “Nguồn tài liệu của TTHL rất đa dạng, nhưng rào cản về ngoại ngữ còn rất lớn” (tr. 106).

Hiện tại, TTHL sở hữu trên 138.000 nhan tài liệu in ấn; 01 CSDL tiếng Anh được cấp quyền sử dụng toàn văn (ProQuest); 11 CSDL chuyên ngành miễn phí; 02 CSDL tiếng Việt về đề tài nghiên cứu khoa học của các tỉnh ĐBSCL và các bài báo chuyên ngành; 10.000 tài liệu số về luận văn tốt nghiệp loại khá giỏi, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ, tài liệu tham khảo khác.
TTHL rất quan tâm đến việc bổ sung tài liệu cho hệ thống thư viện trường. Số lượng tài liệu bổ sung tăng đáng kể, cụ thể là:

Năm

Số lượng sách bổ sung

2006-2007

13.002nhan # 26.471 cuốn

2007-2008

12.444 nhan # 26.040 cuốn

2008-2009

9.134 nhan  # 19.457 cuốn

2009-2010

12.809 nhan # 25.776 cuốn


3. Nội quy, quy định:
Một đơn vị quản lý có hiệu quả ắt phải có nội quy, quy định thích hợp. Trong 24 đơn vị có đào tạo của trường và trong 28 bài báo cáo tham luận, chỉ có 2 ý kiến về vấn đề này. Thứ nhất, Thầy Đoàn Nguyễn Phú Cường, Khoa Luật cho rằng “TTHL thật sự đáp ứng đầy đủ tiện nghi cho một phòng đọc, nhưng có một vấn đề nhỏ đặt ra là quy định vào TTHL hơi quá khắc khe, nên giãn quy định ra để sinh viên có thể vào một cách dễ dàng hơn” (tr. 50). Ý kiến còn lại cho rằng “Cơ sở vật chất của trường, Khoa được xây dựng đầy đủ, TTHL và hệ thống máy tính công cộng phục vụ sinh viên, nhưng vẫn còn một số bất cập về quy định gây sự không thoải mái cho sinh viên khi sử dụng” (Viện nghiên cứu phát triển ĐBSCL, tr. 103). Ngoài ra Viện nghiên cứu phát triển ĐBSCL còn đề cập đến việc “miễn thu phí TTHL nhằm tạo sự thoải mái của sinh viên khi sử dụng” (tr.104). Những ý kiến trên tuy ở mức thiểu số nhưng TTHL sẽ xem xét và điều chỉnh bổ sung.

2. GIẢI PHÁP

Từ những nhận xét và kiến nghị trên, TTHL đã đưa ra 3 giải pháp:

1. Giải pháp 1: Rà soát và điều chỉnh lại nội quy của TTHL, đặc biệt chú ý tăng thời gian mượn tài liệu về nhà: Quy định số lượng tài liệu mượn về nhà sẽ tăng theo đối tượng: Cán bộ sẽ được mượn 5 tài liệu trong thời gian 1 tháng (tăng 2 tuần so với quy định cũ). Sinh viên 3 tài liệu trong 2 tuần (tăng 1 tuần). Đặc biệt sinh viên tình nguyện sẽ được mượn 5 quyển hoặc 8 quyển trong 4 tuần hoặc 6 tuần tùy theo mức độ hỗ trợ các hoạt động của TTHL.

2. Giải pháp 2: Mở các dịch vụ tiện ích: TTHL đang triển khai dịch vụ thư viện lưu động và cung cấp tài liệu đến tận nơi làm việc của cán bộ. Sinh viên tình nguyện sẽ hỗ trợ cán bộ thư viện giới thiệu các tài liệu mới, các CSDL phục vụ cho cán bộ và sinh viên. Các dịch vụ tiện ích này sẽ tối ưu hóa vòng quay của tài liệu và nguồn thông tin có tại TTHL, đồng thời giúp cán bộ có thêm tài liệu hữu ích cho nghiên cứu và giảng dạy.

3. Giải pháp 3: Tăng cường số hóa tài liệu tham khảo phục vụ các học phần, đặc biệt chú trọng các tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt: Nhu cầu tự học, tự nghiên cứu của sinh viên rất cao từ khi nhà trường áp dụng hệ thống tín chỉ. Sinh viên cần có nhiều tài liệu tham khảo. TTHL sử dụng giải pháp số hóa tài liệu tham khảo các học phần theo đề nghị của giảng viên để nhiều sinh viên có thể sử dụng tài liệu cùng một lúc, đọc tại nhà hoặc tại bất cứ nơi nào có kết nối mạng Internet.

3. KẾT LUẬN

Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ với phương châm hoạt động “Nơi hội tụ và chia sẻ tri thức” luôn nỗ lực đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của cán bộ và sinh viên về vốn tài liệu, các dịch vụ tiện ích phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động khó tránh khỏi những thiếu sót do những nguyên nhân chủ quan và khách quan đòi hỏi TTHL phải luôn tích cực lắng nghe và thay đổi. Bên cạnh đó, TTHL có phát huy huy được hết tiềm lực của mình hay không tùy thuộc vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy của các giảng viên. TTHL sẽ luôn là kho tàng tri thức để sinh viên khai thác một cách hữu hiệu nhất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Quang, Đ. M. (2011). Hai tiết tự học trong sinh viên: Thực trạng và giải pháp. Hội nghị đánh giá tình hình sử dụng hai tiết tự học của sinh viên ĐH Cần Thơ.

Cường, Đ. N. P. (2011). Đánh giá của Cố vấn học tập về 2 tiết tự học của sinh viên Khoa Luật. Hội nghị đánh giá tình hình sử dụng hai tiết tự học của sinh viên ĐH Cần Thơ.

Khoa Thủy sản. (2011). Hội nghị đánh giá tình hình sử dụng hai tiết tự học của sinh viên ĐH Cần Thơ.

Châu, L. T. N. (2011). Một số ý kiến đề xuất về việc quản lý, nâng cao chất lượng hai tiết tự học (2G) của sinh viên. Hội nghị đánh giá tình hình sử dụng hai tiết tự học của sinh viên ĐH Cần Thơ.

Vân, P. T. (2011). Một số giải pháp nâng cao khả năng tự học cho sinh viên ngành quản lý công nghiệp – Khoa Công nghệ. Hội nghị đánh giá tình hình sử dụng hai tiết tự học của sinh viên ĐH Cần Thơ.

Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ. (2008). Báo cáo Dự án Phát triển bền vững giai đoạn 1/11/2007- 31/03/2008.

Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ. (2010). Báo cáo tổng kết năm học 2009-2010 và phương hướng hoạt động năm học 2010-2011.

Viện nghiên cứu phát triển ĐBSCL. (2011). Hội nghị đánh giá tình hình sử dụng hai tiết tự học của sinh viên ĐH. Cần Thơ.
 

Thực hiện: Huỳnh Thị Trang
Giám đốc Trung tâm Học liệu Trường ĐH Cần Thơ

Về đầu trang

Dịch vụ thông tin trọn gói - Sản phẩm phục vụ nhu cầu học tập và nghiên cứu của học viên sau đại học Đại học Đà Nẵng

1. Một số vấn đề liên quan đến hoạt động Dịch vụ Thông tin Trọn gói tại Trung tâm Thông tin Học liệu – Đại học Đà Nẵng

Dịch vụ thông tin trọn gói (DVTTTG) là dịch vụ theo dõi bao quát, tập hợp, cập nhật, cung cấp và đáp ứng thông tin theo yêu cầu người dùng tin qua đường bưu điện, email hoặc trực tiếp bằng bản điện tử/ bản in nhằm hỗ trợ tích cực cho người dùng tin tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc tìm kiếm thông tin; hoàn thành tốt các đề tài nghiên cứu, bài báo cáo, luận văn tốt nghiệp, niên luận, bài tập, chuyên đề…; và tránh trùng lặp khi thực hiện nghiên cứu khoa học.

Hoạt động DVTTTG được thực hiện theo 3 bước: Bước 1- Tiếp nhận yêu cầu và đăng ký sử dụng của người sử dụng; Bước 2 - Bộ phận Dịch vụ tìm thông tin và cung ứng tài liệu cho người sử dụng; Bước 3 - Người sử dụng thanh toán chi phí và nhận tài liệu.

Các chi phí thanh toán liên quan đến dịch vụ bao gồm: phí đăng ký sử dụng dịch vụ, phí dịch vụ tìm thông tin, phí sao chép và in ấn tài liệu, phí chuyển giao tài liệu, phí dịch vụ hỗ trợ khác.

Hình thức liên lạc giữa bộ phận làm công tác dịch vụ với người sử dụng: trực tiếp, email, điện thoại, và thông qua bưu điện.

2. Chương trình đào tạo Sau đại học của ĐHĐN

Hiện tại, Đại học Đà Nẵng đào tạo 13 ngành bậc Tiến sĩ và 25 ngành bậc Thạc sĩ theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện cho học viên chủ động hơn trong kế hoạch học tập của mình, cũng như thuận lợi trong liên thông giữa các cấp học. Hằng năm, Đại học Đà Nẵng tổ chức các đợt tuyển sinh đối với tất cả các ngành đào tạo sau đại học trên với hình thức học tập trung tại Đại học Đà Nẵng hoặc học tập trung từ xa. Hiện nay, Đại học Đà Nẵng đang tổ chức một số lớp cao học học tập trung tại Đại học Đà Nẵng, và địa bàn một số tỉnh thành như Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kontum.

3. Nhu cầu thông tin của học viên sau đại học

Học viên sau đại học thông thường là những người vừa học vừa làm nên họ không có thời gian đến thư viện hay Trung tâm Thông tin Học liệu thường xuyên để tìm kiếm nguồn tài liệu; hoặc tự khai thác và tìm kiếm hiệu quả nguồn tài liệu trực tuyến trên mạng phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu của họ. Hơn nữa, một số học viên lại công tác tại tỉnh thành không có thư viện hoặc Trung tâm phục vụ các tài liệu nghiên cứu về chuyên ngành họ đang theo học. Trong khi đó, công việc học tập và nghiên cứu của chương trình sau đại học đòi hỏi họ phải thường xuyên tham khảo tài liệu, nghiên cứu và thực hiện các đồ án, khóa luận tốt nghiệp. Chính vì vậy, nhu cầu sử dụng DVTTTG của các học viên sau đại học là rất lớn. Thông qua dịch vụ, họ có thể tiếp cận được nhiều nguồn tài liệu phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của họ. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng dịch vụ họ còn được các cán bộ thư viện – những người có nhiều kinh nghiệm trong việc tìm kiếm thông tin - tư vấn và hỗ trợ khai thác thêm các nguồn thông tin khác.

Từ khi triển khai thực hiện DVTTTG tại Trung tâm Thông tin Học liệu Đại học Đà Nẵng cho đến nay (từ tháng 10/2010 – 03/2011), tổng số lượng bạn đọc là học viên sau đại học đăng ký sử dụng dịch vụ này là 21 người. Dịch vụ đã phục vụ 22 đợt lấy thông tin, cung cấp 2.617 trang tin, và tư vấn và giúp bạn đọc khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn tư liệu dịch vụ cung cấp.

Một nhu cầu khác cũng liên quan đến công tác nghiên cứu của các học viên cao học là nhu cầu dịch thuật nguồn tài liệu tiếng nước ngoài. Một số học viên ngành Kinh tế, Kỹ thuật, v.v... chưa thành thạo ngôn ngữ tiếng nước ngoài luôn cần dịch những tài liệu tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc ngược lại để tham khảo cho bài viết hoặc công trình nghiên cứu của họ. Hoạt động DVTTTG cũng hỗ trợ và đáp ứng nhu cầu này bất cứ khi nào họ cần.

4. Định hướng phát triển dịch vụ

Hiện tại, Trung tâm Thông tin Học liệu đã và đang triển khai hoạt động DVTTTG. Một số học viên sau đại học đang tham gia sử dụng và cảm thấy thích thú loại hình dịch vụ này. Tuy nhiên, thời gian phục vụ chưa nhiều để kết luận liệu dịch vụ hoạt động có thành công hoặc đáp ứng nhu cầu tìm kiếm nguồn tài liệu của các học viên sau đại học hay không. Song, chúng tôi cũng mạnh dạn đề xuất những định hướng phát triển cho hoạt động dịch vụ này nhằm củng cố và đẩy mạnh hoạt động dịch vụ; đồng thời, đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của học viên sau đại học của ĐHĐN.

- Tăng cường quảng bá dịch vụ bằng cách nhấn mạnh giới thiệu tại các buổi hướng dẫn sử dụng Trung tâm cho bạn đọc; giới thiệu trực tiếp cho bạn đọc tại các phòng đọc, hoặc khi họ có nhu cầu tìm thông tin tại bộ phận dịch vụ; quảng bá trên trang web và các tờ rơi của Trung tâm; thậm chí, có thể quảng bá trực tiếp tại các lớp cao học hoặc tại các buổi hội thảo do Trung tâm tổ chức cho bạn đọc;

- Phát triển hơn nữa kỹ năng tìm kiếm và cung ứng thông tin cho đội ngũ cán bộ làm dịch vụ nhằm nâng cao tính hiệu quả của dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng;

- Liên kết với các thư viện hoặc các Trung tâm Thông tin để phát triển thêm nguồn tài liệu liên thư viện; đa dạng hóa và làm phong phú thêm nguồn thông tin cung ứng cho các học viên khi họ có nhu cầu tài liệu;

- Tìm kiếm thêm các phương thức phục vụ người sử dụng nhanh chóng, hiệu quả và tốt nhất nhằm hỗ trợ tối đa quá trình học tập và nghiên cứu của họ.

Thực hiện: ThS. Vũ Thị Kiều Loan
Trung tâm Thông tin Học liệu – Đại học Đà Nẵng

Về đầu trang

Một số suy nghĩ từ tọa đàm "Mô tả và truy cập tài nguyên (RDA) và khả năng áp dụng tại Việt Nam"

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, sự phát triển nhanh chóng và đa dạng của các tài nguyên thông tin cũng đã có những ảnh hưởng nhất định đối với công tác tổ chức và quản lý nguồn lực thông tin của các thư viện và cơ quan thông tin trong cả nước. Đặc biệt, công tác biên mục tài liệu cũng cần có những thay đổi phù hợp nhằm đảm bảo cung cấp tối đa thông tin tài liệu, giúp người dùng tiếp cận và khai thác thỏa đáng nguồn lực thông tin mà thư viện hoặc cơ quan thông tin đang có. Trong xu hướng phát triển đó, Thư viện Quốc gia Việt Nam đã tổ chức buổi Tọa đàm về chuẩn biên mục mô tả mới đang được nghiên cứu và phát triển trong cộng đồng thư viện thế giới hiện nay với tên gọi “Mô tả và truy cập tài nguyên (RDA) và khả năng áp dụng tại Việt Nam”

Tham dự buổi tọa đàm, bên cạnh sự có mặt của Lãnh đạo Thư viện Quốc gia Úc, còn có các chuyên gia đầu ngành, các cán bộ thư viện đại diện cho các thư viện và cơ quan thông tin trong cả nước. Các đại biểu tham dự đã chia sẻ các báo cáo tham luận, ý kiến trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với nội dung xoay quanh chuẩn biên mục mới RDA, sự khác biệt giữa RDA với các chuẩn biên mục đang phổ biến hiện nay,... cũng như khả năng áp dụng nó vào thực tiễn công tác biên mục tại Việt Nam. Tuy nhiên, bài viết này chỉ dừng lại ở việc chia sẻ một số suy nghĩ của người viết xoay quanh ba vấn đề chính được thảo luận tại buổi tọa đàm về nội dung cần bổ sung/ điều chỉnh đối với RDA; tên gọi tiếng Việt thống nhất của một số thuật ngữ chuyên ngành; và khả năng, phương cách áp dụng RDA tại Việt Nam?

Đề cập đến nội dung cần bổ sung/ điều chỉnh đối với RDA, trước hết cần hiểu rõ khái niệm về chuẩn biên mục này. RDA (Resource Description and Access – tạm dịch Mô tả và truy cập tài nguyên) là công cụ biên mục được phát triển trên cơ sở tập hợp ý kiến về những chỉnh lý và thay đổi đối với chuẩn biên mục AACR2 nhằm đáp ứng sự thay đổi và phát triển của các nguồn tài nguyên thông tin. Tuy nhiên sự khác biệt cơ bản nằm ở nguồn gốc xây dựng các quy tắc biên mục mô tả. Nếu quy tắc của các công cụ biên mục trước đó (ISBD, AACR2) được xây dựng dựa trên từng trường hợp và ví dụ thực tế tài liệu biên mục thì RDA được xây dựng hoàn toàn theo nguyên tắc trên cơ sở các khái niệm và các thông tin liên hệ giữa các tài nguyên. Cụ thể, trong khi các quy tắc của AACR2 được phát triển trên nền các vùng và yếu tố mô tả tài nguyên của chuẩn biên mục quốc tế ISBD – là một chuẩn biên mục được sử dụng phổ biến trong cộng đồng thư viện Việt Nam từ trước tới nay bổ sung thêm phần Truy cập và hình thức tiêu đề thì RDA lại được phát triển trên những quy tắc tương đối mới được gọi là Những quy tắc nghiệp vụ cho biểu ghi thư tịch, gọi tắt là FRBR (Functional Requirements for Bibliographic Records) và Những quy tắc nghiệp vụ cho dữ liệu có thẩm quyền (kiểm soát tính nhất quán) – FRAD (Functional Requirements for Authority Data). Do vậy, thiết nghĩ để có thể nghiên cứu một cách đầy đủ về chuẩn biên mục RDA, cộng đồng thư viện Việt Nam cần tập trung nghiên cứu sâu sắc, đầy đủ và hệ thống đối với những khái niệm, nội dung của FRBR và FRAD bên cạnh việc chắt lọc những kinh nghiệm kế thừa từ việc ứng dụng thực tiễn RDA của cộng đồng thư viện thế giới.

Thêm vào đó, việc sử dụng thống nhất các thuật ngữ chuyên ngành thông tin thư viện tiếng Việt cũng cần phải đảm bảo tính nhất quán ngay từ đầu trong cộng đồng thư viện Việt Nam. Những thuật ngữ được lựa chọn vừa phải có tính nhất quán trong ngôn ngữ giữa các vùng miền, vừa phải tương thích với ngữ nghĩa ứng dụng của môi trường hoạt động thông tin thư viện thế giới nhằm tránh khỏi những ngộ nhận trong việc hiểu và sử dụng các thuật ngữ này khi áp dụng các quy tắc. Để đạt được điều đó, nhất thiết cần có một Hội đồng chuyên môn tập hợp các chuyên gia đầu ngành đại diện cho hoạt động thông tin thư viện trong cả nước để bàn thảo và đưa ra những thuật ngữ thống nhất chung trong lĩnh vực thông tin thư viện. Bên cạnh đó cũng cần có một cơ quan chức năng đầu ngành chịu trách nhiệm thông báo, quán triệt và phổ biến áp dụng rộng rãi danh mục thuật ngữ này vào môi trường hoạt động thực tiễn một cách nhất quán, tránh trường hợp kết quả thống nhất chỉ dừng lại trên văn bản. Ví dụ tại Hội nghị bàn về việc xây dựng Khung Tiêu đề chủ đề tiếng Việt được Thư viện Quốc gia Việt Nam phối hợp Hội liên hiệp thư viện Việt Nam tổ chức tại Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh (2007) với sự tham gia của đại diện các thư viện và cơ quan thông tin trong cả nước đã thông qua Nghị quyết sử dụng thuật ngữ tiếng Việt thống nhất của Subject Headings là “Tiêu đề chủ đề”. Tuy nhiên trong một số tài liệu nghiên cứu hay trên các diễn đàn thông tin thư viện hiện nay vẫn còn sử dụng các thuật ngữ trước đây như Đề mục chủ đề, Tiêu đề đề mục, hay sự không nhất quán trong việc sử dụng một số thuật ngữ khác như tài nguyên thông tin, nguồn lực thông tin, nguồn thông tin,...

Và cuối cùng, từ những nghiên cứu về quy tắc, cũng như kế thừa những kinh nghiệm ứng dụng thực tế của RDA trong cộng đồng thư viện thế giới để chúng ta xem xét và xác định khả năng ứng dụng RDA vào môi trường thông tin thư viện tại Việt Nam một cách phù hợp và hiệu quả. Bên cạnh việc nghiên cứu khả năng ứng dụng thực tiễn của bộ quy tắc, cần quan tâm đến hình thức ấn bản lựa chọn để áp dụng (bản in hay bản Web) vì điều này sẽ ảnh hưởng đến việc quyết định quá trình nghiên cứu, qui trình thực hiện, cũng như những điều kiện về kinh phí, cơ sở vật chất, con người,... cần một quá trình chuẩn bị với chiến lược triển khai cụ thể, có hệ thống nhằm đảm bảo tính nhất quán trong quá trình tiếp cận và áp dụng RDA nói riêng, hay các chuẩn nghiệp vụ mới trên thế giới nói chung vào cộng đồng thư viện Việt Nam. Để đạt được điều đó, thiết nghĩ chúng ta trước hết cần xây dựng một mạng lưới thư viện với sự liên kết chặt chẽ giữa các đơn vị tham gia vào hệ thống. Đồng thời cần có một đơn vị chức năng đứng đầu chịu trách nhiệm kiểm soát hoạt động chuyên môn nhằm đảm bảo tính nhất quán của việc chuẩn hóa hoạt động thông tin thư viện ở Việt Nam hiện nay./.

Tài liệu tham khảo

1. AACR2 versus RDA. Presentation given at CLA Pre-Conference Session “From Rules to Entities: Cataloguing with RDA” / Tom Delsey, 2009

2. Introducing RDA: the new kid on the block / Amanda Cossham, 2008

3. Resource Description and Access / Deirdre Kiorgaard, Director, Bibliographic Standards & Strategy, National Library of Australia, Canberra, 2008.

4. Resource Description and Access (RDA): Cataloging rules for the 20th Century / Karen Coyle, Diane Hillmann, 2007 ( http://www.dlib.org/dlib/january07/coylt/01coyle.html)

5. Tài liệu Tọa đàm “Mô tả và truy cập tài nguyên (RDA) và khả năng áp dụng tại Việt Nam” / Thư viện Quốc gia Việt Nam, 2011.

Thực hiện: ThS. Phan Thị Hà Thanh
Trung tâm Thông tin Học liệu – Đại học Đà Nẵng

Về đầu trang

Trung tâm Thông tin Học liệu Đại học Đà Nẵng với sưu tập "Văn hóa nghệ thuật Chăm"

Người Chăm, còn gọi là người Chàm, người Chiêm Thành,…thuộc nhóm ngữ hệ Nam đảo, là một bộ phận của nhóm loại hình Indonésien. Người Chăm là một dân tộc đã từng có một quốc gia độc lập, hùng mạnh trong lịch sử và có nền văn hóa phát triển. Ở Việt Nam người Chăm có quan hệ gần gũi với nhóm dân tộc như Ê Đê, Gia Rai , Chu Ru, RaGlai...được xác định là cư dân bản địa ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và đã có quá trình định cư lâu đời ở khu vực này. Trải qua hàng ngàn năm, dưới những biến cố lịch sử, xã hội mà chủ yếu là do chiến tranh và mẫu thuẫn nội bộ, người Chăm không còn cư trú tập trung ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ mà phân bố rộng rãi ở khắp các tỉnh phía Nam Việt Nam và một số các quốc gia khác. Ngày nay nhiều di tích Chăm được tìm thấy rải rác từ các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị đến Bình Thuận, Ninh Thuận mà đặc trưng là những đền tháp và các công trình điêu khắc đá.

Trên đất Quảng Nam, nơi xưa kia thuộc địa khu Amaravati có hai trung tâm đã từng là các kinh đô của người Chăm là thành phố Indrapura nằm ở khu vực Đồng Dương (thuộc huyện Thăng Bình), thành phố Simhapura nằm ở Trà Kiệu (thuộc huyện Duy Xuyên) và thánh địa Mỹ Sơn nằm ở cách Trà Kiệu khoảng 25km về hướng tây nam, di tích đền tháp và công trình điêu khắc đá của người Chăm còn rất đậm đặc. Tại thành phố Đà Nẵng, Bảo tàng Điêu khắc Chăm (trước đây là "Musée Henri Parmentier") được chính thức xây dựng vào năm 1915 và khánh thành vào đầu năm 1919 bởi học giả người Pháp, là nơi tập trung nhiều hiện vật điêu khắc Chăm được tìm thấy trong vùng Đà Nẵng, Quảng Nam và các tỉnh lân cận. Qua 2 lần mở rộng, cho đến nay có thể nói đây là một bảo tàng hiện vật điêu khắc Chăm phong phú và có tầm cỡ ở Đông Nam Á.

Văn hóa Chăm Pa chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, đã từng phát triển rực rỡ với những đỉnh cao nghệ thuật là phong cách Đồng Dương và phong cách Mỹ Sơn A1. Cùng với nền điêu khắc của người Khmer và người Java, nền điêu khắc Chăm Pa là một trong ba nền điêu khắc chịu ảnh hưởng của Ấn Độ đạt tới tầm cỡ thế giới. Từ cuối thế kỷ thứ 7 đến đầu thế kỷ 17 người Chăm xây dựng và để lại một số lượng lớn các công trình kiến trúc đền tháp, thành luỹ, cùng các tác phẩm điêu khắc. Hiện tại có trên hai mươi cụm di tích kiến trúc đền tháp và rất nhiều phế tích kiến trúc, các di tích này có giá trị đặc sắc, mang tính toàn cầu, xứng đáng nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế, trong đó có thánh địa Mỹ Sơn được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới vào năm 1999.
Với thế mạnh của đặc trưng vùng miền, sức hấp dẫn và tính độc đáo của giá trị văn hóa nghệ thuật Chăm, trên cơ sở chức năng nhiệm vụ đã được xác định, Trung tâm Thông tin Học liệu Đại học Đà Nẵng xây dựng và phát triển bộ sưu tập “Văn hóa Nghệ thuật Chăm” trong khuôn khổ dự án “Phát triển Trung tâm Học liệu Đại học Đà Nẵng” nhằm tạo thêm một kênh cung cấp thông tin tư liệu cho các đối tượng nghiên cứu Chăm trong và ngoài nước.

Xác định đây là một đề tài tương đối nhạy cảm nên ngay từ ban đầu nhóm thực hiện dự án đã triển khai công việc một cách thận trọng và khoa học. Một hội thảo khoa học qui mô vừa được tổ chức với các tham luận của một số nhà khoa học đến từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cùng các giảng viên Khoa Sử trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Đà Nẵng. Hội thảo đã khẳng định tính đúng đắn và cần thiết của đề tài, đồng thời giúp làm sáng tỏ những vấn đề về phạm vi đề tài cần giới hạn, nguồn cung cấp tài liệu, bước đi và cách thức thực hiện… Sự đóng góp tích cực của GSVS. Trần Ngọc Thêm (Đại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh) và PGS. Vương Văn Toàn (Viện Thông tin KHXHVN) không chỉ là những ý kiến có giá trị khoa học mà còn là những hoạt động hỗ trợ cụ thể trong tiến trình triển khai đem lại sự thành công của dự án.

Qua gần 2 năm thực hiện, cho đến nay bộ sưu tập đã hình thành bước đầu với 5.310 tư liệu gồm 55.424 trang. Số tư liệu xuất bản trước năm 1954 chiếm gần 10% so với tổng số tài liệu thu thập, những tài liệu nầy chủ yếu được viết bằng tiếng Pháp, đang được lưu trữ tại các Viện Thông tin, Thư viện và cơ quan lưu trữ lớn ở Trung ương và địa phương trong cả nước. Nhìn chung, những tài liệu đưa vào sưu tập là những tài liệu được chọn lọc và có giá trị nghiên cứu cao được thẩm định bởi Hội đồng thẩm định Đại học Đà Nẵng.

Đánh giá khái quát về bộ sưu tập, xin phép được trích ra đây nhận xét của ThS. Võ Văn Thắng, Giám đốc Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng: “Mặc dù tài liệu về văn hóa Chăm hiện có khá nhiều nhưng lại nằm rải rác ở thư viện này một ít, thư viện kia một ít và một phần không nhỏ ở các tủ sách cá nhân. Trung tâm Thông tin Học liệu Đại học Đà Nẵng đã rất có công trong việc xây dựng một bộ sưu tập tài liệu quy mô lớn về văn hóa Chăm, tính quy mô thể hiện ở thời gian các tài liệu được ấn hành (gần 100 năm từ đầu thế kỷ 20 đến nay), ở chủ đề nội dung của các tài liệu (từ lịch sử, phong tục, lễ hội cho đến kiến trúc, âm nhạc, ẩm thực…), ở tính chất các tài liệu (từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp, từ loại hình thông tin báo chí đến nghiên cứu chuyên sâu), ở ngôn ngữ (cả ở ba thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, chỉ tiếc là chưa có tiếng Hoa). Giáo sư Bruce Lockhart, trong bài viết mới đây (in trong sách The Cham of Vietnam – History, Society and Art, Trần Kỳ Phương and Bruce M. Lockhart biên tập, Đại học Quốc gia Singapore xuất bản năm 2011) có chia lịch sử nghiên cứu Champa thành 4 trường phái chính, the Colonial Champa – trường phái của các học giả Pháp và Ấn Độ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Champa seen from Saigon – trường phái của các học giả miền Nam Việt Nam trước 1975, Champa seen from Hanoi – trường phái của các học giả Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa và the Revisionist Champa – trường phái của các học giả EFEO từ thập niên 1980 đến nay. Có thể nói với bộ sưu tập tư liệu đồ sộ này của Trung tâm Thông tin Học liệu Đại học Đà Nẵng, người đọc có thể tiếp xúc được với cả bốn trường phái nêu trên”.

Do nguồn kinh phí dự án sử dụng cho đề tài có giới hạn cho nên việc thu thập các tư liệu Chăm lưu trữ ở các tủ sách tư nhân trong nước cũng như các tư liệu Chăm xuất bản và lưu trữ ở nước ngoài vẫn còn là một thiếu sót lớn chưa có khả năng thực hiện. Hiện nay, Nhóm thực hiện dự án đang nổ lực để hoàn thiện những công đoạn cuối nhằm sớm đưa sưu tập vào phục vụ người nghiên cứu.

Tài liệu tham khảo:

1. Ngô Văn Doanh: Văn hóa Chăm Pa. – H., Văn hóa Thông tin, 1994.

2. Nguyễn Q. Thắng: Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước. – Tp. Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng Hợp, 2005.

3. Trần Ngọc Thêm (GSVS.): Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam. – Tp. Hồ Chí Minh, Nxb. Tổng Hợp, 2006.

4. Trang chủ Viện Cổ chàm Đà Nẵng (http://www.chammuseum.danang.vn)
 

Thực hiện: Bùi Văn Phúc
Trung tâm Thông tin Học liệu – Đại học Đà Nẵng

Về đầu trang

Tiếp cận, sử dụng và khai thác nguồn thông tin y tế của sinh viên Khoa Y Dược - Đại học Đà Nẵng

1. Vài nét sơ lược về Khoa Y Dược - Đại học Đà Nẵng

Khoa Y Dược - Đại học Đà Nẵng (ĐHĐN) được thành lập theo Quyết định số 1154/QĐ-TCCB ngày 16 tháng 3 năm 2007 của Giám đốc Đại học Đà Nẵng. Từ khi thành lập đến nay, Khoa Y Dược đã đào tạo tổng cộng 219 sinh viên; trong đó, số lượng sinh viên theo học Đại học Y là 68, Đại học Dược là 73, Trung cấp Dược là 41, và Trung cấp Điều dưỡng là 41.

2. Tiếp cận, khai thác và sử dụng nguồn thông tin Y tế của sinh viên Khoa Y Dược - ĐHĐN

2.1. Tiếp cận nguồn thông tin

Do nhu cầu học tập và nghiên cứu, sinh viên luôn cần tìm hiểu và tiếp cận nhiều nguồn tài liệu liên quan đến chuyên ngành họ đang theo học. Sinh viên Khoa Y dược – ĐHĐN tiếp cận nguồn thông tin Y tế theo những cách sau:

- Sử dụng nguồn tài liệu bản in chủ đề Y – Dược lưu trữ tại Trung tâm Thông tin Học liệu - ĐHĐN;

- Tra cứu Danh mục hướng dẫn tìm thông tin theo chủ đề cập nhật trên trang web của Trung tâm Thông tin Học liệu - ĐHĐN;

- Tham gia tập huấn các Hội thảo “Truy cập và Sử dụng Các nguồn thông tin Y tế Trực tuyến Miễn phí” dành cho sinh viên khoa Y - Dược. Các Hội thảo này được Trung tâm Thông tin Học liệu - ĐHĐN tổ chức dưới sự hỗ trợ tài chính của Tổ chức Từ thiện Đại Tây Dương (Atlantic Philanthropies) và Mạng Ấn phẩm Khoa học Quốc tế (INASP, Vương Quốc Anh), cùng với sự tư vấn và giám sát của Mạng Tài liệu và Thông tin Quốc tế Trực tuyến (INFORM) và Đại học Y tế Công cộng Hà Nội;

- Hỗ trợ và tư vấn của các cán bộ - Trung tâm Thông tin Học liệu về các nguồn thông tin Y tế khi sinh viên có nhu cầu.

2.2. Khai thác và sử dụng

Bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau, sinh viên Khoa Y Dược – ĐHĐN đang có trong tay nguồn thông tin Y tế phong phú và đa dạng, bằng cả ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Đặc biệt, nhờ được tập huấn các kỹ năng tìm kiếm cơ bản và nâng cao; hướng dẫn cách truy cập và sử dụng các nguồn thông tin Y tế trực tuyến như: Cơ sở dữ liệu Pubmed, HINARI, nguồn thông tin Y tế Medline – Bộ Y tế Mỹ, WHO, nguồn thông tin dược, sách điện tử, các công cụ tìm tin,v.v... tại các Hội thảo “Truy cập và Sử dụng Các nguồn thông tin Y tế Trực tuyến Miễn phí”, sinh viên Khoa Y Dược – ĐHĐN đã thu thập và nắm bắt được các kỹ năng tìm kiếm, sử dụng và khai thác những nguồn thông tin Y tế. Điều này hết sức thuận lợi cho công tác học tập và nghiên cứu của họ. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi về nguồn thông tin sinh viên thu thập và tiếp cận được, hầu hết họ gặp phải những hạn chế về kỹ năng tìm kiếm, khả năng ngoại ngữ (tiếng nước ngoài), và một số vấn đề khác. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin đề cập đến hai hạn chế chính, đó là: kỹ năng tìm kiếm và khả năng ngoại ngữ.

2.2.1. Kỹ năng tìm kiếm

Kỹ năng tìm kiếm là một trong những tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến kết quả tìm thông tin. Theo ý kiến đánh giá của 120 sinh viên tham dự tại 4 Hội thảo "Truy cập và Sử dụng Thông tin Y tế Trực tuyến", 85% cơ sở dữ liệu và các nguồn thông tin mà cán bộ Trung tâm Thông tin Học liệu giới thiệu và hướng dẫn cho họ là mới và rất mới, đặc biệt là các cơ sở dữ liệu tiếng nước ngoài. Hầu hết sinh viên (91%) thừa nhận rằng họ còn mơ hồ và chưa nắm bắt hết những kỹ năng và chiến lược tìm kiếm thông tin. Họ chưa biết xác định các bước tìm kiếm như thế nào; xác định từ khóa làm sao; kết hợp các toán tử và kỹ thuật tìm kiếm nào, và sử dụng cơ sở dữ liệu hay nguồn thông tin gì cho thích hợp và đạt kết quả tốt nhất. Qua việc tiếp thu bài giảng, cùng với các thao tác thực hành của họ tại các buổi hội thảo, cũng như những kinh nghiệm chia sẻ của các cán bộ hướng dẫn, các sinh viên cảm thấy tự tin hơn với việc tìm kiếm thông tin của mình. Tuy nhiên, họ cần tiếp tục rèn luyện các thao tác tìm kiếm, tìm tòi, nghiên cứu, sử dụng và khai thác các nguồn thông tin Y dược thường xuyên nhằm có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc tìm kiếm thông tin phục vụ thành công cho quá trình học tập và nghiên cứu lâu dài của họ.

2.2.2. Khả năng ngoại ngữ

Hầu hết nguồn thông tin y tế trực tuyến miễn phí có giá trị đều xuất bản bằng tiếng nước ngoài. Trong khi đó, khả năng ngoại ngữ của sinh viên lại hạn chế. Tổng hợp số liệu thống kê dựa trên phiếu đánh giá của 120 sinh viên từ 4 hội thảo trên cho biết hơn 70% sinh viên Khoa Y Dược thường cảm thấy khó khăn khi tiếp cận, sử dụng, và thực hiện tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu hay các nguồn thông tin tiếng nước ngoài. 95% sinh viên cho rằng họ chưa đủ khả năng để đọc hiểu những bài báo hoặc công trình nghiên cứu viết bằng tiếng nước ngoài bởi vốn từ vựng từ chuyên ngành Y Dược của họ còn hạn chế, cùng với kiến thức chuyên ngành chưa nhiều. Chính vì thế, có thể nói ngoại ngữ chính là một trong những rào cản lớn nhất của sinh viên Khoa Y Dược – ĐHĐN trong việc tìm kiếm, khai thác và sử dụng nguồn tài liệu phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của họ.

3. Công tác tư vấn và hỗ trợ khai thác nguồn thông tin Y tế cho sinh viên

Với nhiệm vụ tổ chức và cung cấp các dịch vụ thông tin tư liệu phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học cho cán bộ, giảng viên và sinh viên Đại học Đà Nẵng, Trung tâm Thông tin Học liệu - Đại học Đà Nẵng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sinh viên Khoa Y Dược – ĐHĐN tiếp cận, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn thông tin Y tế. Nhằm giúp sinh viên có nhiều nguồn tư liệu để học tập và tham khảo, Trung tâm Thông tin Học liệu tiếp tục đẩy mạnh bổ sung nguồn tài liệu bản in, và khai thác thêm nhiều cơ sở dữ liệu y tế miễn phí; thiết kế và cập nhật các biểu mẫu hướng dẫn tìm kiếm thông tin; tăng cường tổ chức các buổi hướng dẫn và tư vấn liên quan đến các nguồn thông tin y dược khi sinh viên có nhu cầu dưới nhiều hình thức thức khác nhau như hướng dẫn trực tiếp, trực tuyến thông qua email/ điện thoại.

Tóm lại, công tác hỗ trợ và tư vấn nguồn thông tin cho sinh viên tốt sẽ giúp các sinh viên Khoa Y Dược – ĐHĐN hoàn thành thành công chương trình học tập của họ; đồng thời, cũng sẽ giúp họ định hướng tìm kiếm và khai thác tốt các nguồn thông tin khác phục vụ quá trình học tập và nghiên cứu.

Thực hiện: ThS. Vũ Thị Kiều Loan
Trung tâm Thông tin Học liệu – Đại học Đà Nẵng

Về đầu trang

Cán bộ thư viện hiện đại và các kỹ năng cần thiết trong môi trường thông tin hiện đại

Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ thông tin. Sự xuất hiện và phát triển không ngừng của Internet và mạng toàn thế giới đã làm thay đổi mọi mặt của đời sống con người và thư viện cùng không tránh khỏi sự ảnh hưởng ấy. Cùng với việc sử dụng rộng rãi máy tính và các công nghệ mạng, Internet và mạng toàn thế giới đã tạo ra một môi trưòng thông tin và xã hội mới- một môi trường hoàn toàn khác với môi trường chức năng của thư viện truyền thống. Trong bối cảnh đó, thư viện và đội ngũ cán bộ thư viện cũng phải thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Tuy nhiên, để có thể thực hiện được sứ mạng cao cả này, người cán bộ thư viện nói chung phải có nhiều kĩ năng cần thiết. Liên hệ đến thực tế ở Việt Nam, các cán bộ thư viện ở các trường đại học Việt Nam cần phải trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết gì để có thể đối phó với những thách thức khi các trường đại học đang chuyển dần từ mô hình đào tạo truyền thống sang đào tạo tín chỉ hoặc qua mạng? Bài viết này xin giới thiệu một số kỹ năng quan trọng cần thiết của các cán bộ thư viện hiện đại đã được đề cập trong các tài liệu chuyên ngành thông tin thư viện quốc tế với mong muốn thông qua đó các cán bộ thư viện đại học Việt Nam có thể tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi trên.

Sự xuất hiện của công nghệ thông tin (ICT) và tính sẵn có của thông tin đã tái định nghĩa các vai trò và nhiệm vụ của cán bộ thư viện. Griffiths và King (1985) cho rằng ba nhân tố chính đã dẫn đến sự hình thành thời đại thông tin: các công nghệ mới, sự điều chỉnh để thích nghi về mặt xã hội đối với tính sẵn có của thông tin và việc sử dụng thông tin, và sự xuất hiện của một nghề thông tin mới.

Sự xuất hiện của ICT trên quy mô toàn cầu đã tạo ra cuộc cách mạng trong thư viện và tất cả các ngành công nghiệp cung cấp dịch vụ. ICT đã thay đổi các cách thức và mô hình mà thông tin và các dịch vụ được cung cấp. Nwachukwu (2005) ủng hộ ý kiến này bằng cách đưa ra nhận xét rằng cùng với tất cả những thay đổi về thông tin và các quá trình truy cập, lưu trữ, phổ biến, và tái tạo, cán bộ thư viện phải điều chỉnh để thích nghi với vai trò và kỹ năng mới nhằm đối phó với sự thay đổi.

Cán bộ thư viện hiện đại phải là chuyên gia nắm vững các tiêu chuẩn và giá trị mà giúp họ làm việc một cách có hiệu quả và trôi chảy trong một môi trường công nghệ. Cán bộ thư viện phải hiểu biết một cách đầy đủ các thông lệ truyền thống của thư viện. Theo Salter (2003), cán bộ thư viện phải luôn mong muốn thay đổi, phát triển và học tập. Họ phải dễ dàng điều chỉnh để thích nghi với môi trường thông tin liên tục thay đổi, có kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục và nắm vững nhiều kỹ năng giao tiếp. Theo Sharp (2000), với vai trò quan trọng là người trung gian và người giảng dạy, cán bộ thư viện sẽ tập trung vào việc giúp đỡ người dùng tin tìm thấy thông tin anh ta cần và cung cấp những công cụ để đánh giá và sử dụng thông tin. Do đó, một trong những vai trò quan trọng nhất của cán bộ thư viện là vai trò tư vấn thông tin. Mỗi cán bộ thư viện hiện đại cần phải có khả năng nhận ra những nhu cầu thông tin, quản lý người dùng tin và động viên mọi người có những kỹ năng khác nhau làm việc chung một nhóm. Có lẽ mặt quan trọng nhất của sự phát triển nghiệp vụ và thúc đẩy sự tiến bộ đối với cán bộ thư viện hiện đại là sự điều chỉnh các kỹ năng hiện có để thích nghi với những thông lệ mới và động cơ thúc đẩy để đạt được những kỹ năng mới khi cần. Trình độ chuyên môn và các kỹ năng cá nhân mà một cán bộ thư viện phải có không thay đổi theo sự phát triển của công nghệ nhưng lại đi theo sự thay đổi về cơ cấu tổ chức và điều hành các dịch vụ thông tin. Những phẩm chất năng lực chuyên môn đối với một cán bộ thư viện hiện đại là sự hòa quyện giữa những phẩm chất cũ và mới. Sự hòa quyện đó bắt nguồn từ nhu cầu tổ chức các tài liệu và thông tin trong một môi trường hỗn hợp.

Liên quan đến các kỹ năng mà cán bộ thư viện hiện đại cần có, Fisher (2004) phân tích một loạt các kỹ năng và chỉ ra rằng cùng với các vai trò truyền thống, cán bộ thư viện sẽ tạo ra các hệ thống quản trị thông tin của tổ chức, sử dụng các kỹ thuật của Kiến trúc sư Thông tin, quản lý việc truy cập các tài liệu số và hỗ trợ từng quán trình học tập có thể có.

Ashcroft (2004) đưa ra 6 nhóm kỹ năng cơ bản:

1. Chuyên môn,

2. Tiếp thị và quảng bá,

3. Đánh giá,

4. Giao tiếp – thương lượng – cộng tác,

5. Kiểm duyệt,

6. Các kỹ năng cá nhân quan trọng khác.

Bà cũng nhận thấy các kỹ năng giao tiếp hết sức cần thiết. Kỹ năng giao tiếp xuất hiện trong hơn 60 % các mẫu quảng cáo tuyển dụng và do đó nên được xem là kỹ năng cần thiết đối với mỗi cán bộ thư viện hiện đại. Cho dù các cán bộ thư viện làm việc trong bộ phận kỹ thuật hay bộ phận phục vụ người dùng tin thì nhu cầu về các kỹ năng giao tiếp đều xuất phát từ sự phát triển nhanh chóng của Web và sự gia tăng các phương thức có thể có và các phương tiện giao tiếp giữa các chuyên gia trong lĩnh vực thông tin thư viện, cán bộ thư viện và người dùng tin.

Bên cạnh các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng liên cá nhân và các kỹ năng xã hội cũng được đánh giá khá cao. Các kỹ năng xã hội quan trọng không chỉ đối với các chuyên gia hoạt động trong các bộ phận dịch vụ công mà chúng cũng phải được xem như là một nhóm kỹ năng riêng biệt bên cạnh các kỹ năng nghiệp vụ và quan trọng đối với mỗi chuyên gia thông tin thư viện hiện đại.

Tầm quan trọng của các kỹ năng công nghệ thông tin được Biddiscombe (2001) nhấn mạnh bởi vì ông tin chúng cần thiết cho bất cứ quá trình học tập, giáo dục hay nghiên cứu nào trong một môi trường học tập (ảo). Cách duy nhất để thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin là sử dụng ICT trong cung cấp dịch vụ thông tin. Các cán bộ thư viện và thư viện phải thực hiện điều này nhằm duy trì tính tương thích khi đối phó với các thách thức và thay đổi. Việc sử dụng phổ biến các phần mềm và kiến thức về xây dựng và duy trì các trang web là hai trong số những kỹ năng cần thiết nhất thuộc nhóm kỹ năng này. Biddiscombe cho rằng song song với việc trang bị cho mình những kỹ năng công nghệ thông tin, các chuyên gia thông tin cũng phải duy trì một số kỹ năng truyền thống của họ và các khả năng chuyên môn. Steele và Mechthild (1998) cũng tin rằng các kỹ năng công nghệ thông tin cùng với các kỹ năng giao tiếp và quản lý sẽ cần thiết đối với mỗi cán bộ thư viện hiện đại.

Theo Croud và các cộng sự (2000), cán bộ thư viện cũng cần phải phát triển các kỹ năng sử dụng internet của mình và bốn điểm cơ bản có liên quan đến sự phát triển đó là sự can thiệp và hỗ trợ, dạy học và đào tạo, sự hợp tác, thiết kế và sản xuất.

Việc phát triển kỹ năng sưu tập các tài nguyên số chiếm vị trí thứ mười trong các quảng cáo tuyển tuyển dụng theo nghiên cứu của Michalis Gerolimos và Rania Konsta. Kỹ năng “tương đương” này bắt nguồn từ môi trường truyền thống xuất hiện nhiều gấp hai lần trong các quảng cáo tuyển dụng. Phát hiện này là phát hiện quan trọng liên quan đến nhu cầu phát triển một loạt các kỹ năng hoàn toàn mới có ngồn gốc từ thế giới số. Do đó, chúng ta kết luận rằng các kỹ năng mà các cán bộ thư viện đã phát triển qua hàng thập kỷ và các kỹ năng liên quan đến kiến thức và sử dụng hệ thống thư viện truyền thống vẫn quan trọng.

Theo một nghiên cứu, các kỹ năng liên quan đến việc quản lý và sử dụng tài nguyên số chiếm một phần nhỏ trong các quảng cáo tuyển dụng.

Nhu cầu về các kỹ năng tổ chức và quản lý nhấn mạnh cán bộ thư viện hiện đại phải có khả năng quản lý và tổ chức cho dù đó là việc quản lý và tổ chức thư viện và các bộ phận chức năng của nó hay là các nhóm nghiên cứu và các dự án.

Mặc dù các cán bộ thư viện đang đối mặt với những thách thức về trang bị các kỹ năng mới nhưng mặt quan trọng nhất của sự thay đổi là phải có khả năng tự điều chỉnh những kỹ năng hiện có để thích nghi. Nhiều kỹ năng trong số đó là những kỹ năng truyền thống của nghề thư viện và khả năng duy trì tính linh hoạt trong một môi trường làm việc không ngừng thay đổi. Và chúng ta có thể mượn lời của Biddiscombe (2001) để thay cho lời kết : “Cán bộ thư viện cần phải duy trì những kỹ năng đã mang lại cho họ sự kính trọng của công chúng trong môi trường truyền thống và đồng thời họ phải tiếp tục sẵn sàng tiếp nhận những ý tưởng mới, quan tâm đến việc tiếp cận nhu cầu của người dùng tin và phát triển tất cả những kỹ năng mới mà họ cần để có thể bảo đảm thông tin được tiếp cận.”

Tài liệu tham khảo:

1. Michalis Gerolimos và Rania Konsta. Librarians’ skills and qualifications in a modern informational environment. Library Management. Bradford: 2008. Vol. 29, Iss. 8/9; p. 691 http://proquest.umi.com/pqdweb?did=1587311671&sid=1&Fmt=3&clientId=100189&RQT=309&VName=PQD

2. Hajar Safahieh và Asefeh Asemi. Computer literacy skills of librarians: a case study of Isfahan University libraries, Iran. The Electronic Library. Oxford: 2010. Vol. 28, Iss. 1; p. 89.
http://proquest.umi.com/pqdweb?did=1961761281&sid=2&Fmt=3&clientId=100189&RQT=309&VName=PQD

3. D. T. Ademodi và E. O. Adepoju. Computer Skill among Librarians in Academic Libraries in Ondo and Ekiti States, Nigeria. Library Philosophy and Practice. Lincoln: Jun 2009. p. 1, 7 pgs.
http://proquest.umi.com/pqdweb?did=1854506051&sid=3&Fmt=3&clientId=100189&RQT=309&VName=PQD

Thực hiện: ThS. Lê Thị Thanh Nhàn
Trung tâm Thông tin Học Liệu - Đại học Đà Nẵng

Về đầu trang

Hoạt động dịch vụ thư viện tại Trung tâm Thông tin Học liệu Đại học Đà Nẵng

Trong sự phát triển của xã hội, giáo dục đại học luôn đóng vai trò then chốt với việc đào tạo nguồn nhân lực tri thức cao; mà ở đó, chất lượng đào tạo của một trường đại học được quyết định không chỉ bởi các yếu tố cơ bản như đội ngũ giảng viên, chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy mà còn được quyết định bởi hệ thống cơ sở vật chất phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học, trong đó có thư viện. Từ trước đến nay, thư viện luôn được hình thành, tồn tại và phát triển song song với sự hình thành và hoạt động của một trường đại học, do đó đòi hỏi hoạt động thông tin thư viện cũng cần có những thay đổi phù hợp gắn liền với thực tiễn. Đặc biệt trong thời gian vài năm trở lại đây, khi giáo dục đại học chuyển dần từ hình thức đào tạo niên chế sang hình thức đào tạo tín chỉ với việc lấy người học làm trung tâm, hoạt động thông tin thư viện trong trường đại học cũng cần xây dựng cho mình những kế hoạch hoạt động, loại hình dịch vụ đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ giảng dạy, nghiên cứu và học tập của các đối tượng người dùng.

Đại học Đà Nẵng (ĐHĐN), với hơn 15 năm xây dựng và phát triển, là đại học vùng, trọng điểm quốc gia ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên, phát triển theo định hướng đại học nghiên cứu, ứng dụng, với sứ mệnh: Đào tạo lực lượng cán bộ đa ngành ưu tú, có tinh thần yêu tổ quốc và tư duy hiện đại, biết phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển của đất nước. Xác định hoạt động đào tạo theo phương châm đào tạo đa cấp, đa ngành, đa lĩnh vực, hiện nay Đại học Đà Nẵng có đến 16 chuyên ngành đào tạo Tiến sĩ, 25 chuyên ngành đào tạo Thạc sĩ, và hàng chục chuyên ngành đào tạo các cấp đại học, cao đẳng, trung câp chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật.

Bên cạnh sự có mặt của các thư viện trường thành viên, Trung tâm Thông tin Học liệu – ĐHĐN đã được hình thành và ngày càng giữ vai trò quan trọng không chỉ trong mạng lưới thư viện đại học mà còn là địa chỉ quen thuộc trong phục vụ thông tin đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu và giảng dạy của các đối tượng người dùng trong toàn ĐHĐN. Gắn liền với mục tiêu của ĐHĐN “xây dựng nhà trường trở thành Đại học Nghiên cứu vào năm 2020, nơi đào tạo đội ngũ nhân lực trình độ cao, trung tâm NCKH, giao lưu quốc tế lớn của khu vực miền Trung - Tây Nguyên”, trong hơn 10 năm hoạt động, Trung tâm Thông tin Học liệu – ĐHĐN luôn luôn chú trọng xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng, hệ thống thiết bị công nghệ hiện đại; phát triển nguồn lực thông tin phong phú đa dạng; tổ chức các loại hình dịch vụ thông tin; và các hoạt động nghiệp vụ khác nhằm hỗ trợ và cung cấp điều kiện tối ưu cho người dùng tiếp cận và khai thác thông tin phục vụ nhu cầu học tập, giảng dạy, nghiên cứu thường xuyên và suốt đời.

Bên cạnh các hoạt động dịch vụ thông tin truyền thống như tra cứu trực tuyến thông tin thư mục tài liệu, dịch vụ hướng dẫn kỹ năng thông tin cơ bản, dịch vụ sao chép in ấn, dịch vụ lưu thông tài liệu,… Trung tâm còn chú trọng xây dựng và phát triển một số loại hình dịch vụ thông tin đáp ứng nhu cầu tiếp cận và khai thác thông tin của người dùng, thích ứng với sự thay đổi hình thức đào tạo, phương pháp dạy và học trong nhà trường. Có thể kể đến một số dịch vụ thông tin sau:

Dịch vụ cung cấp thông tin chuyên đề bài trích báo, tạp chí cung cấp thông tin mới trích từ báo, tạp chí tại Trung tâm thông qua các tập san tóm tắt được phát hành định kỳ hàng tháng hoặc từ cơ sở dữ liệu bài trích báo - tạp chí của Trung tâm. Các tài liệu này được phân theo lĩnh vực, chủ đề và được sắp xếp theo trật tự hệ thống phân loại DDC. Trong từng chủ đề, tài liệu sắp xếp theo vần chữ cái tên tài liệu. Bạn có thể tự lựa chọn bài phù hợp với lĩnh vực, chủ đề mình cần; hoặc có thể chuyển các yêu cầu về chủ đề muốn tìm tài liệu đến Phòng Dịch vụ Thông tin. Tài liệu toàn văn được cung cấp ngay sau khi bạn đọc yêu cầu.

Dịch vụ hỗ trợ hướng dẫn tìm tin theo chủ đề cung cấp những hướng dẫn thông tin theo chủ đề với 02 dạng chính: Hướng dẫn tìm tin từ các nguồn tài liệu in trên giấy bao gồm sách, báo tạp chí…, Hướng dẫn tìm tin từ các nguồn tài liệu điện tử bao gồm các cơ sở dữ liệu, các trang Websites miền phí trên Internet. Nội dung dịch vụ được thể hiện dưới dạng danh các nguồn thông tin chủ yếu được sắp xếp theo chủ đề nhằm giúp cho người dùng tin khởi đầu nghiên cứu.

Dịch vụ thông tin trọn gói là dịch vụ theo dõi bao quát, tập hợp, cập nhật, cung cấp và đáp ứng thông tin theo yêu cầu người dùng tin qua đường bưu điện, email hoặc trực tiếp bằng bản điện tử/ bản in nhằm hỗ trợ tích cực cho người dùng tin tiết kiệm thời gian và chi phí trong việc tìm kiếm thông tin; hoàn thành tốt các đề tài nghiên cứu, bài báo cáo, luận văn tốt nghiệp, niên luận, bài tập, chuyên đề…; và tránh trùng lặp khi thực hiện nghiên cứu khoa học. Dịch vụ này được xây dựng nhằm mục đích hỗ trợ các đối tượng như học viên cao học, nghiên cứu sinh,… là những người vừa học vừa làm nên họ không có thời gian đến thư viện hay Trung tâm Thông tin Học liệu thường xuyên để tìm kiếm nguồn tài liệu; hoặc tự khai thác và tìm kiếm hiệu quả nguồn tài liệu trực tuyến trên mạng phục vụ cho công tác học tập và nghiên cứu của họ; hoặc các đối tượng người dùng từ xa đang công tác tại các tỉnh thành không có thư viện hoặc Trung tâm phục vụ các tài liệu nghiên cứu về chuyên ngành họ đang theo học và nghiên cứu.

Dịch vụ tài liệu đặt trước là loại hình dịch vụ được xây dựng nhằm tiếp cận và tăng cường mối liên kết chặt chẽ giữa đội ngũ giảng viên, cán bộ nghiên cứu với hoạt động thông tin thư viện tại Trung tâm thông qua việc giới thiệu cung cấp danh mục các tài liệu tham khảo, tài liệu đọc thêm,… được yêu cầu đối với từng nội dung học phần. Các tài liệu này sẽ được cán bộ chuyên trách tập hợp, quản lý và xây dựng chính sách phục vụ phù hợp nhằm tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận và khai thác tài liệu học tập một cách tập trung, đồng thời góp phần giảm tải cho công việc của cán bộ giảng dạy trong quá trình lên lớp. Hiện nay dịch vụ này đang được thử nghiệm thông qua việc tiếp cận với các giảng viên, cán bộ nghiên cứu thường xuyên đến sử dụng Trung tâm và đã nhận được sự ủng hộ cho tính khả thi cao của dịch vụ trong quá trình chuẩn bị ban đầu.

Dịch vụ hỗ trợ học tiếng Anh trực tuyến cung cấp những hướng dẫn và tư vấn kịp thời giúp bạn động tiếp cận, làm quen và khai thác hiệu quả công cụ học tiếng Anh trực tuyến LangMASTER nhằm rèn luyện và nâng cao khả năng ngoại ngữ – một trong những hạn chế của sinh viên trong việc tiếp cận và khai thác các nguồn thông tin hữu ích cho quá trình học tập, nghiên cứu của bản thân.

Ứng dụng công nghệ web 2.0 vào việc phát triển các dịch vụ thư viện truyền thống bằng việc sử dụng các công cụ như Wiki, Blog, YM, Facebook,… để xây dựng dịch vụ tham khảo ảo, các trang thông tin trực tuyến, tăng kênh thông tin liên lạc thường xuyên giữa thư viện và người dùng, tạo ra các sản phẩm phù hợp giúp người dùng tiếp cận thông tin, nhận được sự hỗ trợ và tư vấn kịp thời từ cán bộ thư viện trong quá trình khai thác nguồn lực thông tin và sử dụng tối đa các dịch vụ thông tin phục vụ cho nhu cầu học tập, giảng dạy và nghiên cứu suốt đời.

Khoa học công nghệ phát triển không ngừng, hoạt động đào tạo trong nhà trường cũng sẽ thay đổi kéo theo nhu cầu thông tin phục vụ học tập, giảng dạy và nghiên cứu ngày càng cao. Điều đó đòi hỏi hoạt động dịch vụ thông tin thư viện nói chung, tại Trung tâm Thông tin Học liệu – ĐHĐN nói riêng luôn phải được chú trọng để tiếp tục phát triển một cách phong phú và đa dạng loại hình và chất lượng dịch vụ cung cấp đến các đối tượng người dùng hiện nay và trong tương lai.

Tài liệu tham khảo

1. Đại học Đà Nẵng - 15 năm xây dựng và phát triển, 2010.

2. Trang chủ Đại học Đà Nẵng tại địa chỉ http://www.udn.vn

3. Trang chủ Trung tâm Thông tin Học liệu tại địa chỉ: http://www.lirc.udn.vn

Thực hiện: ThS. Phan Thị Hà Thanh
Trung tâm Thông tin Học liệu – Đại học Đà Nẵng

Về đầu trang

Nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ thư viện tại Đại học Huế: Một số giải pháp và đề xuất

1. Đặt vấn đề

Chúng ta đang sống trong xã hội tri thức, trong đó người nắm giữ tri thức là người nắm giữ sức mạnh. Sứ mệnh của ngành TT-TV trở nên lớn lao hơn bao giờ hết khi xã hội xem đó là nơi quản lý và cung cấp tri thức đến người dùng. Khi thư viện ở các nước tiên tiến đã được trang bị đầy đủ nhân lực, vật lực để thực hiện trọng trách của mình thì tại Việt Nam, chúng ta chỉ mới bắt đầu những bức phá đầu tiên thoát khỏi vỏ bọc truyền thống lâu đời của mình. Chưa bao giờ ngành TT-TV lại cần phải thay đổi một cách bức bách đến vậy. Sự thay đổi này thể hiện ở cả chất và lượng, trong đó con người là yếu tố quan trọng nhất.

Vấn đề đào tạo cán bộ TT-TV trên quy mô toàn quốc ở nước ta có đã có lịch sử trên 40 năm1. Đó là khoảng thời gian đủ lâu để con người tiến từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin kể từ khi mạng Internet được khám phá cũng cách đây hơn 40 năm. Vậy thì chất lượng đào tạo và trình độ nghiệp vụ của cán bộ thư viện tiến bộ như thế nào sau gần nửa thế kỷ? Một thực tế rằng vấn đề này gần như không được chú trọng cho đến khi cuộc cách mạng thông tin bùng nổ. Thực vậy, chúng ta không khỏi giật mình khi nhìn lại “hành trang tri thức” của nhân lực của ngành TT-TV.

2. Một vài nét thực trạng về các chương trình đào tạo trong nước và trình độ nghiệp vụ của cán bộ thư viện tại ĐHH

a. Các chương trình đào tạo trong nước

Hiện nay trong cả nước đã hình thành hệ thống các cơ sở đào tạo cán bộ TT-TV khá phong phú, gồm các bậc trung cấp, cao đẳng, đại học và cao học thuộc các hệ chính quy, chuyên tu và tại chức2. Cụ thể một số cơ sở đào tạo thạc sĩ và cử nhân ngành TT-TV là:

- Khoa TT-TV Trường ĐH Văn hóa Hà Nội

- Khoa TT-TV Trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia Hà Nội

- Khoa TT-TV Trường ĐH KHXH&NV – ĐH Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Các cơ sở khác đào tạo bậc đại học như:

- Khoa TT-TV Trường CĐ Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch TP. Hồ Chí Minh

- Khoa TT-TV Trường ĐH Sài Gòn

- Khoa KHXH&NV Trường ĐH Cần Thơ

- Khoa Thông tin học và Quản trị thông tin Trường ĐH Dân lập Đông Đô

Ngoài ra, một số công ty hoặc các trường đại học, cao đẳng liên kết với các trung tâm thông tin mở các khóa học ngắn hạn cung cấp chứng chỉ theo nhu cầu người học.

Hằng năm có khoảng hơn 500 cử nhân khoa học TT-TV được đào tạo chính quy. Con số này đã phần nào đáp ứng nhu cầu trong nước và một bộ phận trong số sinh viên ra trường đã phát huy được vai trò của mình, phục vụ đúng ngành, đúng nghề. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề cần điều nghiên, đổi mới để theo kịp bước tiến của kỷ nguyên thông tin. Thực vậy, theo PGS.TS Nguyễn Hữu Hùng (TT Thông tin KHCN Quốc gia), việc đào tạo tại các cơ sở còn “mang tính chắp vá, cục bộ, kiến thức của không ít sinh viên ra trường chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế”3; kỹ năng của sinh viên còn hạn chế và ít thường xuyên rèn luyện để nâng cao tay nghề.

Nguyên nhân chất lượng đầu ra chưa cao là do điểm chuẩn tuyển chọn đầu vào còn thấp, nhưng nguyên nhân chính vẫn là chương trình đào tạo chưa đúng chuẩn. Sinh viên buộc phải học nhiều kiến thức đại cương và kiến thức cơ sở. Do vậy, thời lượng để học kiến thức chuyên ngành một mặt được phân bổ ít và mặt khác lại không chuyên sâu (xem bảng). Cụ thể là sinh viên ra trường vẫn còn lỗ hổng kiến thức ở những lĩnh vực như tổ chức, quản lý và quảng bá thư viện, phát triển sản phẩm dịch vụ thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành4. Từ đó, cử nhân của ngành vẫn còn thiếu nhiều kỹ năng cần thiết như kỹ năng như: kỹ năng tin học, kỹ năng thông tin, kỹ năng quản lý, kỹ năng giao tiếp với bạn đọc, sáng tạo các sản phẩm dịch vụ thông tin thu hút bạn đọc v.v.

Bậc đào tạo

Tổng số tiết của chương trình

Kiến thức đại cương

Kiến thức cơ sở ngành

Kiến thức ngành TT-TV

Tổng số

Tỷ lệ

Tổng số

Tỷ lệ

Tổng số

Tỷ lệ

Trung học

1.500

540

36%

210

14%

750

50%

Cao đẳng

2.526

1.235

49%

180

7%

1.110

44%

Đại học

3.015

1.515

50%

330

11%

1.170

39%

 

Bảng phân bổ thời lượng giảng dạy ngành TT-TV ở các bậc học

b. Trình độ nghiệp vụ của cán bộ thư viện tại ĐHH

Đội ngũ cán bộ thư viện tại ĐHH có mặt bằng chung khá đồng bộ, tuổi đời trung bình khá trẻ, năng động và tâm huyết với nghề nghiệp. Tuy nhiên, một điều không thể phủ nhận rằng chúng ta vẫn chưa thật sự chuyên nghiệp để đáp ứng nhu cầu phát triển chung. Hầu hết rất ít cán bộ có bằng cử nhân chuyên ngành TT-TV. Thư viện tại các trường tuy đã nỗ lực đổi mới nhưng phần nào vẫn còn ảnh hưởng những “giá trị cũ” và những ràng buộc về cơ chế quản lý khiến cán bộ chưa phát huy hết năng lực của mình.

Mặc dù vậy, chúng ta vẫn có một số lợi thế và tiềm lực cần tận dụng, đó là hầu hết cán bộ thư viện đều có trình độ đại học trở lên, tuổi đời khá trẻ, một số tốt nghiệp chuyên ngành ngoại ngữ hoặc công nghệ thông tin. Mặt bằng chung này là nền tảng thuận lợi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho nhân lực thư viện.

3. Thách thức mới cho cán bộ thư viện tại ĐHH

Ngành TT-TV ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp giáo dục nước ta khi Bộ GD và ĐT xem đó là một trong những yếu tố thúc đẩy mục tiêu đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng dạy và học. Điều đó có nghĩa rằng cán bộ thư viện sẽ có thêm cơ hội mới để phát triển nhưng cũng đối mặt với không ít thách thức.

Bạn đọc5

Bạn đọc ngày càng hiểu biết và nắm bắt rất nhanh những công nghệ mới, thông tin mới. Cán bộ thư viện cần tìm tòi, học hỏi để cập nhật kiến thức của mình nhằm đáp ứng nhu cầu bạn đọc. Mặt khác, với sự ra đời của Web 2.0. và sự nở rộ của “phương tiện truyền thông công dân” như YouTube, Facebook, MySpace, bách khoa toàn thư mở, người dùng ngày càng chủ động trong việc truyền tin – thông tin chưa được kiểm duyệt – lên mạng Internet, đồng thời khai thác nguồn thông tin được cho là khác với nguồn tin truyền thống như báo chí hoặc truyền hình6. Nhân viên thư viện lúc này cần phát huy vai trò của mình là người hoa tiêu hướng dẫn cho người dùng đến nguồn tin đáng tin cậy 7.

Đối với bản thân cán bộ thư viện

Trong một thời gian dài, mô hình thư viện truyền thống đã để lại hình ảnh “chưa đẹp” đối với bạn đọc. Thư viện chỉ là nơi chứa sách cho bạn đọc mượn sách. Có không ít bạn đọc, ngay cả giảng viên, xem thư viện là nơi không cần đến mỗi khi tìm kiếm thông tin bởi theo họ, “Google còn hơn thư viện”. Bởi vậy, đã đến lúc chúng ta cần hành động để thay đổi những cách nhìn đó, mà trước hết chúng ta cần thay đổi chính mình.

Xu thế phát triển của kỷ nguyên thông tin 8

Một xu thế phát triển mới của thế giới được các nhà nghiên cứu dự báo trong năm 2005-2015 là chuyển từ phát triển định hướng mạng (Network centric) sang phát triển nội dung (Content centric). Theo dự báo trong vòng 15 năm tới, cứ sau 3 năm lượng thông tin do nhân loại tạo ra sẽ tăng gấp đôi9. Nội dung số cũng tăng tỷ lệ thuận với sự xu thế phát triển nội dung. Trước tình hình đó, cán bộ thư viện cần trang bị nhiều mặt như kiến thức, kỹ năng, tinh thần tự học để có thể theo kịp bước tiến được tiên đoán này.

4. Một số giải pháp nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ thư viện tại ĐHH

Vấn đề chất lượng cán bộ thư viện là vấn đề lớn và có liên quan đến nhiều nhân tố, tuy nhiên, với hạn chế về kinh nghiệm và kiến thức, người viết chỉ nêu ra một số giải pháp và mong nhận được sự góp ý của các cán bộ đầu ngành. Các giải pháp nêu dưới đây được gói gọn trong 6 chữ: phát triển chuyên môn liên tục (Continuing Professional Development), trong đó đòi hỏi có sự tham gia của lãnh đạo trường, lãnh đạo thư viện và đặc biệt là mỗi cán bộ thư viện (xem mô hình).

Mô hình các hoạt động trong Phát triển chuyên môn liên tục 10 11 12 13

a. Đào tạo ngắn hạn hoặc dài hạn:

Đào tạo chính quy

Mặc dù chất lượng đào tạo cán bộ TT-TV ở nước ta chưa cao nhưng nếu có thể, thư viện cần tạo điều kiện cho cán bộ của mình tham gia các bậc học chính quy. Hầu hết các thư viện đều nhận thấy được sự cần thiết của việc đào tạo dài hạn, nhưng do một số khó khăn như kinh phí, thiếu hụt nhân lực nên phần nào cản trở việc đào tạo nâng cao cho cán bộ.

Đào tạo ngắn hạn

Những chương trình đào tạo ngắn hạn cấp chứng chỉ là giải pháp khá phù hợp với tình hình của các thư viện hiện nay. Cán bộ thư viện có thể học và được cấp chứng chỉ theo từng kỹ năng chuyên môn. Thời gian học để được cấp chứng chỉ không dài, kinh phí ít tốn kém nên thuận lợi cho người vừa học vừa làm.

b. Đào tạo tại nơi làm việc

Có hai hình thức đào tạo tại nơi làm việc phổ biến là đào tạo dựa trên công việc (on-the-job training) và quan sát công việc (job shadowing). Cả hai hình thức đều có tính hiệu quả và khả thi cao.

Đối với hình thức đầu tiên, nhân viên có thể được hướng dẫn bởi người đã có kinh nghiệm trong ngành hoặc bởi chuyên gia được thuê đến đào tạo. Nhân viên sẽ thực hành trên thực tế công việc, từ đó người hướng dẫn sẽ đánh giá được năng lực của họ và có hướng đào tạo phù hợp. Thời gian học của nhân viên có thể ngay trong giờ làm việc hoặc sau giờ làm.

Ngoài ra, quan sát công việc cũng là hình thức đào tạo hiệu quả và thuận lợi cho những nhân viên mới. Người học việc sẽ quan sát người đã có kinh nghiệm thực hiện công việc, sau đó ghi chép, đặt câu hỏi nếu có thắc mắc và thực hành.

Hiện nay, chúng ta vẫn thường thực hành những phương pháp này tại nơi làm việc. Để phát huy thêm tính hiệu quả, các thư viện, trung tâm học liệu có thể trao đổi, biệt phái nhân viên của mình đến đơn vị khác để quan sát công việc khi cần học hỏi lẫn nhau, đồng thời tạo mối liên kết giữa các đơn vị.

c. Hội nghị, hội thảo, tập huấn

Việc tổ chức và tham gia hội nghị, hội thảo, lớp tập huấn là cơ hội cho cán bộ trong ngành chia sẻ chuyên môn, kinh nghiệm, bồi dưỡng thêm nghiệp vụ. Đây luôn được xem là hình thức đào tạo hiệu quả và mang tính chuyên môn cao. Những nhân viên không thể tham dự cũng có thể học được qua việc nghiên cứu kỷ yếu hội thảo hoặc tài liệu của lớp tập huấn.

d. Tham quan thực tiễn

Hình thức tham quan thực tiễn có lẽ là hình thức được trông đợi từ nhân viên, bởi nó tạo tâm lý thoải mái và háo hức. Nhân viên rất cần được mở mang tầm nhìn bằng cách tiếp xúc, tham quan các đơn vị khác. Việc tham quan thực tiễn không nhất thiết phải tốn kém về tài chính. Một địa điểm nhân viên chưa biết đến, ví dụ như các thư viện trong tỉnh, trong vùng, trong nước cũng là một nguồn để học hỏi.

đ. Các buổi nói chuyện theo chuyên đề

Không cần đi đâu xa để học hỏi khi bên cạnh chúng ta có những đồng nghiệp. Nếu chúng ta biết tạo cơ hội cho các đồng nghiệp nói chuyện, trao đổi với nhau, ví dụ như một buổi tọa đàm theo một chủ đề chuyên môn, đó là một phương pháp nâng cao nghiệp vụ hữu hiệu và thân thiện.

e. Tự học và học suốt đời

Với thực trạng chung của ngành giáo dục và chất lượng đào tạo cán bộ TT-TV ở nước ta hiện nay, tự học và học suốt đời là giải pháp tối quan trọng đối với mỗi cá nhân. Trước khi có những chuyển biến tích cực từ ngành TT-TV, trước khi được lãnh đạo tạo điều kiện, chúng ta hãy tự học vì lợi ích của chính mình.

Người tự học và học suốt đời cũng chính là người dạy, người tạo động lực, hứng thú học tập cho mình và hoàn toàn tự nguyện. Việc tự học không phải dễ dàng để theo đuổi vì bản thân người cán bộ có thể bị chi phối nhiều bởi cuộc sống và công việc. Tuy vậy, với nhu cầu trau dồi tri thức, nâng cao nghiệp vụ, người cán bộ sẽ nhận thấy sự cần thiết phải tự học. Công nghệ phát triển hằng ngày với tốc độ chóng mặt; thông tin nhanh chóng bị lạc hậu; ngành TT-TV mang nhiều trọng trách hơn trong công cuộc đổi mới giáo dục; nhu cầu bạn đọc ngày càng tăng cao, một vài yếu tố đó cũng đủ để nhận ra rằng chúng ta không thể đứng yên tại chỗ. Theo ước tính, nếu sinh viên học trong bốn năm thì những gì năm đầu đã học sẽ trở nên cũ đi vào năm thứ ba14. Vì vậy, nếu chúng ta không tự trau dồi, chúng ta sẽ bỏ qua khối lượng lớn kiến thức và lỡ nhịp phát triển.

5. Một số đề xuất

Đề ra giải pháp không phải là bước khó khăn, điều đáng trăn trở là chúng ta có thể thực thi những giải pháp đó đến đâu. Với mục tiêu nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ thư viện ĐHH và liên kết giữa các thư viện, bài báo cáo xin nêu một vài đề xuất dưới đây:

- Mỗi thư viện cần vạch ra kế hoạch ngắn hạn, dài hạn có tầm nhìn chiến lược về phát triển nguồn nhân lực cho đơn vị mình, từ đó chia ra các giai đoạn để thực hiện.

- Thiết lập một kênh thông tin chung để cán bộ thư viện trong ĐHH trao đổi kinh nghiệm, chuyên môn của mình, ví dụ một hộp mail chung để thảo luận, một diễn đàn trên mạng, hoặc xa hơn là một xuất bản phẩm định kỳ như bản tin hoặc tạp chí chuyên ngành. Có thể áp dụng công nghệ Web 2.0. để tạo môi trường trao đổi giữa các đồng nghiệp thúc đẩy tính tương tác như Wiki, đánh dấu xã hội (social bookmark), blog v.v.

- Xây dựng một góc tài liệu chuyên ngành cho nhân viên thư viện ở đơn vị mình, trong đó bổ sung các tài liệu như từ điển, sách, tạp chí, tài liệu hội nghị, hội thảo, tập huấn v.v. có liên quan đến các mảng chuyên môn để nhân viên có thể tìm đọc và nghiên cứu.

- Người quản lý thư viện cần vận dụng một hoặc kết hợp nhiều giải pháp đào tạo nhân viên sao cho phù hợp với hoàn cảnh của thư viện, luôn tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên được đào tạo nâng cao, học hỏi thêm kiến thức, kinh nghiệm, khuyến khích tinh thần tự học ở mỗi nhân viên. Ngoài ra, người lãnh đạo cũng cần tìm hiểu và hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước, từ đó tận dụng nguồn tài trợ tổ chức các hoạt động nâng cao nghiệp vụ.

- Cá nhân mỗi cán bộ thư viện cần đề cao tinh thần tự học và sẵn sàng học suốt đời, tạo thói quen tự học như một việc làm hằng ngày bắt đầu từ những việc đơn giản như: đọc báo lấy thông tin liên quan, xem một chương trình truyền hình, thảo luận một vấn đề với đồng nghiệp, đăng ký tham gia vào một hộp mail chung thảo luận theo chủ đề (listservs), sử dụng Internet để tìm kiếm, thu thập, trao đổi thông tin, đọc tạp chí và sách chuyên ngành, tự nghiên cứu một vấn đề, trau dồi ngoại ngữ và tìm kiếm cơ hội học bổng.

- Sự ủng hộ của lãnh đạo trường về tài chính và tinh thần là yếu tố quyết định của vấn đề. Tất cả mọi giải pháp đều vô nghĩa nếu không có sự đầu tư tài chính và đồng ý thực hiện. Nâng cao chất lượng giáo dục đại học phải đồng thời với nâng cao chất lượng các thư viện đại học. Bởi vậy, hơn bao giờ hết, thư viện cần được quan tâm hơn và đầu tư nhiều hơn về con người, tài nguyên, công nghệ cũng như cơ sở hạ tầng.

- Bạn đọc thư viện cũng cần phát huy nhiều hơn quyền thành viên của mình đối với thư viện: hỏi nhiều hơn, yêu cầu nhiều hơn và sử dụng nhiều hơn các dịch vụ của thư viện. Việc làm đó không những có ích cho bạn đọc mà còn tạo động lực cho nhân viên thư viện phải tự hoàn thiện mình để đáp ứng nhu cầu bạn đọc.

6. Kết luận

Thế nào là hình ảnh của một cán bộ thư viện tương lai? Đó sẽ là người sẵn sàng làm việc trong môi trường điện tử và số, là người chủ động nắm bắt và ứng dụng những công nghệ mới, là người hoa tiêu cho bạn đọc trong biển cả thông tin, là người không những có chuyên môn vững mà còn được trang bị đầy đủ các kỹ năng tin học, giao tiếp, thuyết trình, quản lý v.v., là người “có khả năng làm việc với các chuyên gia tin học trong phát triển và đánh giá các hệ thống thư viện cũng như hỗ trợ người dùng những cuộc tìm tinh vi,… là người biết kết hợp hài hòa dịch vụ truyền thống với các công nghệ mới”15 v.v. Đó chỉ là một vài nét phác thảo chân dung của cán bộ thư viện tương lai. Đối với môi trường thư viện Việt Nam, cũng còn khá lâu nữa chúng ta mới tự “vẽ” được chân dung đó cho chính mình. Nhưng một điều chắn chắn rằng chúng ta có thể bắt đầu từ ngày hôm nay. Bài báo cáo xin được kết thúc bằng một vài nét phác thảo của người cán bộ của tương lai như trên để từ đó làm thước đo cho chúng ta nhìn lại, phấn đấu và hoàn thiện chính mình.

Tài liệu tham khảo

1 Nguyễn, H. H. (2004). Nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ thông tin – thư viện ở Việt Nam. Thông tin & tư liệu (2):1-5.

2 Lê, T. D. (2006). Đào tạo thông tin – thư viện. Thư viện trẻ. Truy cập ngày 9/10/2010 từ http://www.thuvientre.com/dao-tao-thong-tin-thu-vien-viet-nam.

3 Nguyễn, H. H. (2004). Nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ thông tin – thư viện ở Việt Nam. Thông tin & tư liệu (2):1-5.

4 Nguyễn, T. D. (2005). Đào tạo chuyên ngành thư viện – thông tin. Thông tin & tư liệu, (2):19-23.

5 Huỳnh, T. X. P. (2011). Nâng cao năng lực cho cán bộ thư viện đại học giảng dạy kỹ năng thông tin. Báo cáo [đăng kỷ yếu] tại Hội thảo “Nội dung và phương pháp thực hiện các khóa huấn luyện kỹ năng thông tin cho độc giả”. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh: Tp. Hồ Chí Minh.

6 Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam. 2008. Truyền thông kiểu cũ và kiểu mới. Công nghệ thông tin và Truyền thông, (2):55-57.

7 Huỳnh, Đ. C., & Huỳnh, T. X. P. (2008). Nâng cao chất lượng các dịch vụ Thông tin – Thư viện nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cán bộ, giảng viên và sinh viên Đại học Huế. Báo cáo Hội nghị các Thư viện Cao đẳng – Đại học Việt Nam 2008. Đà Nẵng.

8 Huỳnh, T. X. P. (2011). Nâng cao năng lực cho cán bộ thư viện đại học giảng dạy kỹ năng thông tin. Báo cáo [đăng kỷ yếu] Hội thảo…. Hồ Chí Minh.

9 Cao, M. K. (2008). Một số suy nghĩ về tổ chức và hoạt động thông tin, thư viện ở Việt Nam trong giai đoạn sắp tới. Thông tin & tư liệu, (1).

10 Parry, J. (1996). Continuing professional development. Trong M. Lodroyd (Ed.), Staff development in academic libraries: present practice and future challenges (pp. 18-25). London: Library Association Publishing.

11 Clyle, L. A. (2005). Librarians and breaking barriers to information literacy: implication for continuing professional development and workplace learning. Library Review, 45(7), 425-434.

12 Walter, S. (2006). Instructional improvement: building capacity for the professional development of librarians as teachers. Reference and User Service Quarterly, 45(3), 1-20.

13 Walter, S. (2008). Librarians as teachers: a qualitative inquiries into professional identity. College and Research Libraries, 69(1), 1-50.

14 MarketingGenius (người tạo và đăng). Did you know 4.0. [Video] (2009). Truy cập từ http://www.youtube.com/watch?v=PHmwZ96_Gos&feature=related.

15 Nguyễn, T. H. (2004). Thư viện trong môi trường số (tổng hợp các nguồn tin trên Internet). Thông tin & tư liệu, (1):30-34.

Thực hiện: Huỳnh Thị Xuân Phương
Trung tâm Học liệu – Đại học Huế

Về đầu trang

Nâng cao năng lực, phát triển kỹ năng nghề nghiệp của cán bộ thư viện hiện nay

Hiện nay, chúng ta dễ dàng nhận thấy hầu như tất cả những người đã và đang công tác trong ngành thư viện, nhất là những cán bộ làm công tác nghiệp vụ trong một thư viện hoặc Trung tâm Thông tin, Trung tâm Học liệu đều gặp không ít khó khăn trong công việc hàng ngày. Trước sự bùng nổ thông tin cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, càng lúc càng tạo nên những áp lực lớn và đòi hỏi người cán bộ thư viện phải được nâng cao kiến thức chuyên môn, tay nghề, nắm vững công nghệ mới nhằm bắt kịp đà phát triển của xã hội nói chung và ngành thông tin thư viện nói riêng. Trong vài năm gần đây, một số cơ quan đầu ngành cũng có tổ chức một số khóa tập huấn ngắn hạn về từng chuyên đề nhỏ, nhưng vẫn chưa có tài liệu nào hướng dẫn một cách đầy đủ, cụ thể theo trình tự những kỹ năng căn bản trong công tác thư viện hiện đại. Hiện nay, vai trò xã hội của thư viện được nâng cao, nghề thư viện được chú trọng hơn thì yêu cầu về trau dồi kỹ năng để tăng nhanh hiệu quả phục vụ của thư viện lại trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Cuốn sách Kỹ năng căn bản nghề thư viện liệt kê những kỹ năng cần thiết cho người làm việc trong thư viện hoặc cơ quan thông tin một cách chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp, nhất là những người mới vào nghề. Nội dung cuốn sách tập trung vào năm phần chính như sau:

Quản lý Thư viện (Library Management)

• Cung cấp kiến thức tổ chức, điều hành, và quản lý một thư viện nhằm lưu trữ thông tin và phục vụ truy cập một cách hiệu quả nhất

• Loại hình thông tin

• Sơ đồ tổ chức Thư viện

• Tiến trình tổ chức và xử lý tư liệu trong Thư viện

Công tác nghiệp vụ (Technical Services)

Cung cấp kiến thức và kỹ năng nhằm xác định kỹ thuật và tiêu chuẩn để kiểm soát dữ liệu thư mục và thông tin, cũng như dùng để định vị và truy cập thông tin.

• Mô tả thư mục theo tiêu chuẩn quốc tế - ISBD (International Standard Bibliographic Description)

• Biên mục: Phân loại và Phân tích chủ đề

• Dạng Thư mục đọc được bằng máy - MARC formats (MAchine - Readable Cataloging)

• Điểm truy cập (access points)

• Chiến lược truy tìm

• Sắp xếp thứ tự biểu ghi thư mục

• Nạp và tải biểu ghi thư mục (uploading and downloading records)

Công tác phục vụ người dùng tin (Public Services)

Bồi dưỡng kỹ năng vận hành dịch vụ mượn trả một cách xác thực và mang tính hiệu quả cao dựa trên vốn tài liệu của thư viện, cụ thể bằng một số hoạt động trong hệ thống lưu hành như:

• Nguyên tắc của hệ thống lưu hành

• Chính sách lưu hành

• Tài liệu dành riêng

• Mượn liên thư viện (interlibrary loans)

• Tình trạng tài chính

• Hệ thống lưu hành ấn phẩm định kỳ

Phát triển vốn tài liệu (Collection Development)

Rèn luyện kiến thức và năng lực trong công tác phát triển kho tư liệu thư viện một cách hợp lý và khoa học, xây dựng một chính sách bổ sung tư liệu dựa trên những yếu tố sau:

• Xác định đối tượng và mục tiêu phục vụ của thư viện

• Đánh giá chất lượng của bộ sưu tập tài liệu hiện có

• Nghiên cứu yêu cầu bổ sung từng loại sách

• Định hướng phát triển kho tài liệu

• Cân đối ngân sách hàng năm

• Lập kế hoạch bổ sung từ tổng quát đến cụ thể

Bảo quản tài liệu (Collection Maintenance)

Cung cấp những hiểu biết và kỹ năng để lưu trữ, bảo quản và gìn giữ kho tài liệu trong một môi trường thích hợp và an toàn. Cụ thể theo hai nội dung sau đây:

• Tổ chức kho

+ Phòng ốc và giá kệ phải thích ứng với từng loại hình tài liệu

+ Tránh những tác hại của môi trường làm hư hỏng tài liệu

+ Kỹ thuật xếp giá phải thuận tiện trong phục vụ

+ Kho đóng và Kho mở

• Bảo quản

+ Tiếp nhận và xác định tình trạng của ấn phẩm

+ Bảo quản trước và Bảo quản sau

+ Kiểm tra kho sách theo định kỳ

VAI TRÒ CỦA CÁN BỘ THƯ VIỆN TRƯỜNG HỌC HIỆN ĐẠI

Thư viện và chân dung của cán bộ thư viện trường học trong con mắt của học sinh, phụ huynh, giáo viên và các nhà quản lý giáo dục dường như chỉ dừng lại trong khuôn khổ về một thư viện truyền thống, nơi giữ sách và cho mượn sách, người giữ sách và người cho muợn sách. Trên thực tế, lực lượng cán bộ thư viện trường học ở nước ta hiện nay quả là còn non yếu. Phần lớn những người làm việc tại các thư viện trường học chưa được đào tạo chính quy và tất nhiên ít người được trang bị những kiến thức đặc thù cho công tác thư viện tại các trường học. Điều này thật dễ giải thích: chưa có một cơ sở đào tạo ngành Thư viện – Thông tin học nào có một chương trình tập trung vào việc đào tạo cán bộ thư viện trường học; thư viện chưa trở thành bộ phận được các trường học đầu tư, vì vậy việc bổ nhiệm nhân sự cho thư viện có phần tùy tiện, không tính đến tính chuyên nghiệp của người làm công tác này. Điều này đã đến lúc phải được xem xét và tìm một hướng cải tiến.

Với mong muốn gắn liền đào tạo với thực tiễn, với nhiệm vụ cung cấp những tri thức mới nhất của ngành, đi trước, đón đầu nhu cầu của thực tiễn, các cơ sở đào tạo ngành Thư viện - Thông tin nên chăng, hãy tiến hành nghiên cứu một mô hình thư viện trường học, một diện mạo cán bộ thư viện trường học đủ sức trở thành bộ phận quan trọng cho thành công của công tác dạy và học. Cụ thể là thư viện và cán bộ thư viện là nơi sẽ cung cấp thông tin, huấn luyện kỹ năng thông tin cho cả giáo viên lẫn học sinh của nhà trường, để từ đó thiết kế chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ thư viện trường học cho đất nước.

Việc này không còn là mới mẻ đối với các quốc gia phát triển. Nhiều cơ sở đào tạo ngành Thư viện – Thông tin của họ có một chương trình đào tạo dành riêng cho cán bộ thư viện trường học, như là Đại học Simmons, Đại học Tổng hợp Illinois, Đại học Tổng hợp Rhode Island. Cán bộ thư viện trường học ở các nước như Mỹ, Canada, Úc đã thiết lập nên những hiệp hội để quy định tiêu chuẩn, trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ lẫn nhau trong các hoạt động của thư viện trường học. Đây cũng là nhu cầu cần thiết của các thư viện trường học ở Việt Nam. Vì vậy việc xem xét ý tưởng về một chương trình đào tạo cán bộ thư viện trường học có thể được bắt đầu bằng việc nghiên cứu kinh nghiệm từ các nước phát triển, mà cụ thể ở đây là cách mà họ quan niệm về diện mạo của một cán bộ thư viện trường học.

Nhìn chung, diện mạo của cán bộ thư viện trường học được xem xét theo các điểm chính sau:

• Cán bộ thư viện trường học là một nhà giáo dục;

• Cán bộ thư viện trường học là người có khả năng thu hút sự cộng tác từ nhiều đối tác;

• Cán bộ thư viện trường học là người lãnh đạo chương trình cập nhật thông tin cho cộng đồng trong nhà trường;

• Cán bộ thư viện trường học là người quản lý.

KẾT LUẬN

Kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển cho thấy diện mạo của cán bộ thư viện trường học trong bối cảnh mới đòi hỏi họ phải có đầy đủ các kiến thức, kỹ năng như một giáo viên thực thụ, bên cạnh đó là trình độ nghiệp vụ giỏi, khả năng giao tiếp linh hoạt, kỹ năng quản lý, tổ chức, thái độ nhiệt tình, và tinh thần trách nhiệm cao. Họ phải là một đối tác ngang hàng với các giáo viên trong nhà trường và là linh hồn của thư viện trường học.

Từ việc xem xét diện mạo cán bộ thư viện hiện đại của các nước tiến tiến, có thể thấy rằng cán bộ thư viện trường học ở Việt Nam cũng phải có cùng một diện mạo như trên thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn. Vì vậy, việc nghiên cứu để xây dựng một chương trình đào tạo dành riêng cho cán bộ thư viện trường học nhằm cung cấp được đầy đủ, chuyên sâu các kỹ năng nghiệp vụ thư viện, sư phạm, giao tiếp, tâm lý người dùng tin cho cán bộ thư viện trường học là vô cùng cần thiết. Bên cạnh đó cần phải có một phương cách kêu gọi, đề nghị xã hội, nhà trường đánh giá đúng mức vai trò, giá trị của thư viện nói chung, cán bộ thư viện trường học nói riêng trong công cuộc giáo dục thế hệ trẻ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

• Chelton, Mary, Structural and Theoretical Constraints on Reference Service in High School Library Media Center // Reference & User Services Quarterly, Spring 1999, pp.275-285.

• Haycook, Ken, The Student Perspective // Teacher librarian. Apr. 2004; vol. 31 Issue4, p. 40.

• Kỹ năng căn bản nghề thư viện – Dương Thúy Hương, Thư viện ĐH Khoa học Tự nhiên. Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh.

• Neuman, Susan & Celone, Donna, Save the Libraries // Educational leadership. Mar. 2004. vol. 61 Issue 6; p.82

• Olson, Renee, Coming Soon to a School Near You // School Library Journal Online, February 1, 2000.

http://www.thuvien.net

Thực hiện: Phùng Ngọc Sáng
Trung tâm Học liệu ĐH Thái nguyên

Về đầu trang

Liên kết đào tạo – Điểm sáng của Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên

 Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhu cầu học tập thường xuyên, liên tục và suốt đời là nhu cầu chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Do đó, việc mở ra các loại hình đào tạo phong phú, đa dạng nhằm tạo điều kiện cho mọi người có điều kiện tiếp cận với giáo dục. Đào tạo theo nhu cầu và khả năng của mỗi người là việc làm cần thiết và phù hợp trong bối cảnh xã hội hiện nay. Liên kết đào tạo là một mô hình trong giáo dục nhằm tạo cơ hội học tập cho toàn xã hội. Nhờ cách làm này, nhiều người ở vùng sâu, vùng xa, nhiều người bận làm việc, không có thời gian cũng có cơ hội học tập lên cao. Nắm bắt được nhu cầu về đào tạo tại địa phương, ngay sau khi đi vào hoạt động, Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên đã chủ động hợp tác với một số trường đại học và cơ sở đào tạo trong và ngoài nước mở ra các chương trình liên kết đào tạo cho người học trên địa bàn Thái Nguyên nói riêng cũng như khu vực miền núi phía Bắc nói chung. Một trong những chương trình đã thực hiện và được đánh giá khá thành công là chương trình liên kết đào tạo với Viện Đại học Mở Hà Nội.

Tháng 6 năm 2008, Trung tâm bắt đầu tuyển sinh hệ đại học từ xa - một hệ đào tạo dựa trên cơ sở phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giảng viên và cung ứng học liệu - với 3 chuyên ngành: Luật Kinh tế, Kế toán và Quản trị kinh doanh.

Sau hai tháng tuyển sinh, tháng 8 năm 2008, tại Trung tâm Học liệu đã khai giảng khóa đầu tiên với tổng số 335 học viên. Qua quá trình đào tạo, để đáp ứng nhu cầu của đông đảo người học, Trung tâm đã chủ động đề xuất và được Viện Đại học Mở nhất trí với hình thức tuyển sinh hàng tháng. Tháng 6 năm 2009 lại đánh dấu một sự phát triển mới đó là: Trung tâm Học liệu đã mở thêm ngành Tài chính ngân hàng và chương trình liên thông ngành Kế toán với tổng số 110 học viên. Từ tháng 12 năm 2010, tại Trung tâm đã bắt đầu triển khai chương trình đào tạo từ xa bằng đại học thứ hai (văn bằng hai) của các ngành: Luật kinh tế, Kế toán và Quản trị kinh doanh.

Với sự mở rộng qui mô và loại hình đào tạo, phương thức đào tạo nhằm tạo điều kiện, mở thêm nhiều cơ hội học tập cho người học như vậy, tính đến hết tháng 3/2011, số lượng học viên đang theo học tất cả các chuyên ngành tại Trung tâm là 1.014 học viên. Trong số đó có rất nhiều người là cán bộ đương chức của các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Tỉnh Thái Nguyên; học sinh, sinh viên của Đại học Thái Nguyên và các trường chuyên nghiệp trên địa bàn.

Việc liên kết đào tạo đã góp phần không nhỏ trong việc khẳng định vị thế, vai trò của Trung tâm Học liệu trong Đại học Thái Nguyên cũng như trên địa bàn. Trung tâm đã được coi như một địa chỉ tin cậy cho người học. Mặt khác, cũng nhờ việc tổ chức các chương trình này, cán bộ viên chức Trung tâm cũng ngày càng trở nên năng động, học hỏi và tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong hoạt động đào tạo, nâng cao khả năng tổ chức, quản lý, đào tạo chuyên nghiệp. Do vậy, đời sống cán bộ viên chức cũng được nâng cao, góp phần vào sự phát triển bền vững của Trung tâm.

Trong năm 2011, Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên sẽ phấn đấu liên kết, mở rộng thêm một số ngành nghề đào tạo, tăng số lượng tuyển sinh, nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng nhu cầu nhân lực, góp phần vào sự phát triển chung của Thái Nguyên và khu vực.
 

Thực hiện: ThS. Nguyễn Ánh Nguyệt
Trung tâm Học liệu ĐH Thái Nguyên

Về đầu trang

Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên hỗ trợ đắc lực sinh viên học tập và nghiên cứu theo học chế “tín chỉ”

Quy chế đào tạo theo học chế “tín chỉ” vừa mới mẻ vừa lạ lẫm với sinh viên Việt Nam nói chung và sinh viên Thái Nguyên nói riêng. Đây là một hình thức học tập mới đã và đang giúp sinh viên tiếp cận với nguồn tri thức vô tận của thế giới từng ngày từng giờ.

Thoạt nghe đến học chế “tín chỉ” rất ít các bạn sinh viên biết và hiểu về hình thức học tập và giảng dạy này. Quy chế đào tạo theo học chế “tín chỉ” có hệ thống những quy định chung, cách tổ chức và đào tạo, hình thức đánh giá, xét và công nhận tốt nghiệp, xử lí vi phạm khác hẳn với quy chế đào tạo theo hình thức “niên chế” đã được áp dụng trong thời gian trước.

Một số đặc điểm cần lưu ý trong hình thức đào tạo theo học chế “tín chỉ” là: thời gian mà sinh viên theo học có thể giảm xuống đáng kể. Nếu như theo hình thức “niên chế” thì sinh viên bắt buộc phải theo học hết số năm quy định trong chương trình đào tạo, ví dụ: đối với các trường Đại học là 4 năm, với các trường Cao đẳng là 3 năm. Tuy nhiên, theo quy chế “tín chỉ” thì sinh viên có thể học tập và tốt nghiệp ra trường sớm hơn, hơn nữa sinh viên có thể tự mình đăng ký các học phần thích hợp để tiện cho việc học tập và nghiên cứu của mình. Chính vì yếu tố này mà sinh viên cùng một lúc có thể học tập ở các trường khác nhau và có nhiều các văn bằng cùng một lúc sau khi ra trường.

Cũng cần nói thêm, quy chế “tín chỉ” đòi hỏi sinh viên phát huy cao độ khả năng tự học tự nghiên cứu và thời gian học tập của sinh viên trên giảng đường ít hơn. Sinh viên trở thành người chủ động trong việc chọn môn học, thời gian học. Trên lớp, sinh viên lại chủ động đóng góp ý tưởng, tích cực tham gia thảo luận và thậm chí có quyền phản biện các quan điểm của giảng viên. Giảng viên chỉ giữ vai trò là người tư vấn, hướng dẫn và gợi mở. Do đó sinh viên phải chủ động tích cực hơn trong việc học tập của mình. Để thật sự chủ động trong việc học tập, sinh viên phải có nguồn học liệu phong phú để chuẩn bị kiến thức cho việc lên lớp.

Với những đặc điểm trên đây của học chế tín chỉ cần một nơi để đáp ứng các yêu cầu đó và sự hiện diện của Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên (TTHL-ĐHTN)) đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc áp dụng và triển khai học chế tín chỉ vào việc giáo dục và đào tạo, nâng cao khả năng học tập và nghiên cứu ở sinh viên. Để lý giải cho điều này sau đây là một vài chia sẻ và tâm sự của người dùng tin về việc học tập và nghiên cứu của Sinh viên ở TTHL–ĐHTN.

Bạn Nguyễn Thị Mận sinh viên năm thứ 2 K41 Kinh tế nông nghiệp - Đại học Nông Lâm cho biết: Các dịch vụ phục vụ bạn đọc ở TTHL giúp em có thể tìm thông tin cũng như tài liệu một cách nhanh chóng và dễ dàng hơn, đồng thời chia sẻ tài liệu với bạn bè. Bên cạnh đó, nhờ có mạng Wifi mà em có thể dễ dàng truy cập mạng một cách thuận tiện và hơn thế nữa còn có thể đăng ký các học phần thích hợp theo chuyên ngành của mình.

Khu vực máy tính dành cho sinh viên ở TTHL-ĐHTN

Bạn Hoàng Thị Thủy sinh viên năm thứ 2 K41 Kinh tế nông nghiệp tâm sự: Nhờ có phòng nghe nhìn của TTHL mà em có thể học tiếng Anh dễ hơn với sự trợ giúp của các phương tiện nghe nhìn và luyện đọc mà không ảnh hưởng tới người khác. Bạn Thủy cũng cho biết đôi khi đôi khi các bạn cũng gặp khó khăn trong việc sử dụng các thiết bị tại phòng nghe nhìn.

Bạn Phan Thị Tình chia sẻ: Vì TTHL có nhiều phương tiện hỗ trợ học tập mà bạn thường xuyên đến hoc tập và nghiên cứu ở TTHL. Trung bình một tuần bạn đến TTHL 4 buổi. Bạn Tình cũng nhận xét một số bạn đọc thiếu ý thức sau khi sử dụng sách và tài liệu không để lại vị trí cũ khiến bạn rất khó khăn trong việc tìm tài liệu.

Phòng nghe nhìn TTHL-ĐHTN

Bạn Nguyễn Thu Trang sinh viên K7 Đại học Kinh tế chia sẻ, do thời gian học tập trên lớp ít nên bạn thường đến Trung tâm để tìm thêm nhiều nguồn tài liệu khác nhau ở đây. Đặc biệt không gian học tập ở TTHL rất lý tưởng cho việc học tập và nghiên cứu của bạn. Đây cũng là một lý do khiến bạn rất hay đến TTHL.

Bạn Lê Đình Bính lớp Lâm nghiệp K39 Đại học Nông lâm đánh giá TTHL là một cẩm nang tri thức khổng lồ mà bạn phải lật dở từng trang. Bạn Bính cho biết bạn có thể ngồi cả ngày tại TTHL mà không chán. Bạn cũng nói thêm các tài liệu ở TT rất phong phú về nhiều lĩnh vực trong cuộc sống và đề nghị TTHL nên tập trung mua các loại sách chuyên sâu cho từng chuyên ngành hẹp để tiện cho việc học tập và nghiên cứu của các bạn.

Sinh viên đọc sách tại TTHL - ĐHTN

Để tổng hợp các ý kiến trên đây, chúng em có một số kiến nghị đề xuất với TTHL–ĐHTN để TT thực sự là nơi cần thiết và quan trọng nhất đối với sinh viên chúng em:

• Trung tâm Học liệu nên có phiếu yêu cầu bổ sung tên những cuốn sách chúng em cần mà hiện tại ở TT chưa có.

• Phòng nghe nhìn cần trang bị lại trang thiết bị và đường truyền tốt hơn để chúng em có không gian học môn tiếng Anh đạt hiệu quả hơn.

• Trung tâm Học liệu cần theo dõi và xử lý nghiêm hơn đối với các sinh viên không để sách đúng nơi qui định vì chúng em thường xuyên không tìm thấy sách trên giá mặc dù khi tra cứu trên OPAC vẫn còn sách trong kho.

Với những ưu thế hiện có, TTHL–ĐHTN đã và đang hỗ trợ đắc lực cho không chỉ sinh viên mà cả cán bộ và giảng viên của Đại học, đóng góp tích cực cho việc triển khai rộng rãi học chế tín chỉ hiện đang được áp dụng tại Đại học Thái Nguyên cũng như trên toàn quốc.

Thực hiện: Hà Mạnh Hoàng
Sinh viên trường Đại học Sư phạm - ĐHTN

Về đầu trang

Vai trò của cán bộ Dịch vụ Thông tin trong việc định hướng khai thác nguồn tin cho người dùng tại Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1. Vai trò của thông tin

Ngày nay, thông tin đã trở thành nguồn lực đặc biệt thúc đẩy sự phát triển cuả xã hội, là nguồn tài nguyên, nhân tố quan trọng cho sự phát triển của mỗi quốc gia. Thông tin đóng vai trò hàng đầu trong sự phát triển của khoa học, là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình quản lý và tổ chức xã hội. Trong quá trình giáo dục thông tin là sản phẩm đặc biệt, là kết quả kế thừa tri thức có tính lịch sử của nhân loại. Hiện nay, chúng ta đang sống trong một xã hội thông tin, số lượng những người làm công tác nghiên cứu khoa học đang tăng lên theo cấp số nhân, sản phẩm của họ tạo ra ngày càng trở nên phong phú hơn về nội dung, đa dạng hơn về hình thức. Tất cả đã tạo nên một khối lượng thông tin khổng lồ và không ngừng phát triển, dẫn đến hiện tượng “bùng nổ thông tin”. Vậy câu hỏi đặt ra đối với người dùng tin là: Làm thế nào để có đựợc nguồn tin phù hợp trong số vô vàn các nguồn tin khác nhau? Làm thế nào đề tìm kiếm đựơc nguồn tin đáp ứng nhu cầu của nguời dùng tin nhanh chóng, chính xác, phù hợp, và cập nhật nhất?

Câu hỏi đặt ra đồng thời cũng là bài toán lớn dành cho những người làm công tác thư viện là làm sao khẳng định vai trò của cán bộ dịch vụ thư viện trong quá trình định hướng, khai thác nguồn tin để phục vụ nguời dùng tin một cách tốt nhất?

2. Kênh thông tin, phương thức lựa chọn kênh thông tin chính xác

Thông tin chỉ có ý nghĩa và giá trị khi được chuyển giao đến người có nhu cầu tin. Vì vậy, trước khi chuyển giao đến người dùng tin thì nguồn tin phải được xử lý, đánh giá để đảm bảo độ tin cậy. Do vậy, các nhà khoa học thư viện đã chia các kênh thông tin để chuyển giao tri thức cho đối tuợng người dùng tin, tạo điều kiện thuận lợi và giúp họ tiếp cận các nguồn tin theo hai con đường.

a. Kênh văn bản

Kênh thông tin văn bản là hình thức lưu trữ thông tin cổ điển nhất. Theo kênh này, thông tin đến với người dùng tin quá các dạng tài liệu như: Sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án v.v.

b. Kênh trực tuyến

Kênh thông tin trực tuyến là quá trình tự động hóa thông tin, người dùng tin tiếp xúc với thông tin dưới dạng cơ sở dữ liệu (CSDL) toàn văn hoặc dưới dạng thư mục và thông qua nguồn tin trên Internet.

Hiện nay, kênh thông tin trực tuyến có một số bộ CSDL, trang web đáng tin cậy như: ProQuest Central, Hinari, Agora, Google Scholar, v.v.

c. Phương thức truy cập, lưa chọn các nguồn thông tin đáng tin cậy

Việc truy cập thông tin được thực hiện qua các điểm truy cập, đây là những yếu tố đặc trưng của tài liệu mà người dùng tin có thể tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng, chính xác.

Đối với kênh văn bản, người dùng tin cần tìm tin theo các dấu hiệu hình thức của tài liệu trong tủ phích, theo trật tự các biểu ghi như: Tên tác giả, nhan đề tài liệu, năm xuất bản, v.v.qua những bản thư mục thông báo sách mới, bản tin thư mục chuyên đề hoặc dịch vụ hỏi đáp, tìm tin xác định.

Đối với kênh trực tuyến người dùng tin có thể tìm tin trên OPAC, trên Internet theo các dấu hiệu: Tên tác giả, tên tài liệu, từ khoá, tiêu đề chủ đề, loại hình tài liệu, năm xuất bản, chỉ số phân loại.

Người dùng tin hiện nay có thể truy cập thông tin bằng nhiều hình thức khác nhau như: Truy cập tại chỗ, truy cập từ xa. Tuy nhiên khi lựa chọn cho mình phương thức tìm tin hiệu quả nhất người dùng tin cần chú ý đến các dấu hiệu tìm tin, hệ thống truy cập nguồn tin có phù hợp với yêu cầu tin của mình hay không? Khi tìm tin ,người dùng tin cần tính đến độ tin cậy, độ cập nhật, độ chính xác của các nguồn tin.

3. Các loại hình dịch vụ thông tin của Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Khi thực hiện các dịch vụ thông tin Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên đã dựa vào tình hình thực tế, nhu cầu dùng tin của người dùng tin để bổ sung vốn tài liệu và tạo ra các sản phẩm dịch vụ thông tin phù hợp. Các sản phẩm và dịch vụ thông tin luôn luôn gắn chặt với người cung cấp dịch vụ. Chất lượng của dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào cá nhân thực hiện dịch vụ (trình độ, kỹ năng thông tin) .

Chính vì vậy, Cán bộ dịch vụ của Trung tâm Học liệu Thái Nguyên luôn là người hướng dẫn, chỉ dẫn cho người dùng tin biết tiềm năng của các dịch vụ thông tin bằng cách cung cấp cho họ một cảm giác hữu hình về các dịch vụ đó.

Nguồn tài nguyên của Trung tâm học liệu Thái Nguyên bao gồm:

Tài liệu in ấn: bao gồm 80.000 bản sách và 220 loại tạp chí

Tài liệu điện tử: Hiện nay Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên có hai nguồn tài liệu điện tử tiếng Anh và tiếng Việt có giá trị sử dụng cao.

Tài liệu điện tử tiếng Việt bao gồm:

+ Bộ CSDL luận văn luận án

+ Bộ CSDL bài giảng điện tử: Bao gồm các bài giảng điện tử được biên soạn bởi các giảng viên Đại học Thái Nguyên.

+ Bộ CSDL tạp chí Khoa học và Công Nghệ - Đại học Thái Nguyên.

+ Bộ CSDL khuyến nông : Bao gồm các tài liệu và phim khoa học về khuyến nông.

+ Tạp chí chăn nuôi

Tài liệu điện tử tiếng Anh bao gồm các bộ CSDL:

Bộ sách điện tử tiếng Anh của IGPUBLISH , bộ CSDL ProQuest Central , bộ CSDL AGORA , bộ CSDL HINARI , bộ CSDL OARE …Đây là nguồn tài nguyên vô cùng phong phú, và hữu ích đối với việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy các vấn đề về kinh tế, y dược, nông lâm và môi trường.

Tài liệu nghe nhìn: Bao gồm: Đĩa CD – ROM, DVD – ROM đi kèm theo sách, đĩa VCD, DVD, băng Video.

Các hoạt động dịch vụ thông tin ở Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên bao gồm:

• Cho mượn tài liệu

• Dịch vụ tài liệu tham khảo

• Dịch vụ dịch thuật

• Dịch vụ internet

• Phổ biến thông tin có chọn lọc

• Các dịch vụ trao đổi thông tin

• Đào tạo, tập huấn nghiệp vụ thông tin thư viện

Tại Trung tâm dịch vụ thông tin phổ biến nhất hiện nay mới chỉ là dịch vụ cho mượn tài liệu. Để tạo bước đột phá trong việc nâng cao các loại hình dịch vụ thông tin tại Trung tâm, hiện nay Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên đang từng bước hình thành các dịch vụ cung cấp thông tin theo yêu cầu của khách hàng, tổ chức nguồn tin theo chủ đề, và đẩy mạnh dịch vụ thông tin tham khảo, dịch vụ thông tin có chọn lọc tại Trung tâm.

4. Vai trò của cán bộ dịch vụ trong việc định hướng khai thác nguồn tài nguyên của Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Hiện nay Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên đã và đang đóng góp vào việc học tập và giảng dạy của toàn Đại học. Đó là: hình thành môi trường học tập kiểu mới; cung cấp những kinh nghiệm học tập đa dạng; hỗ trợ việc phát triển kỹ năng một cách có hệ thống; cung cấp điểm truy cập tới nhiều nguồn thông tin khác nhau; khuyến khích và hỗ trợ việc học tập; tạo cơ hội tiếp cận chương trình học một cách bình đẳng; nâng cao sự tự tin và khả năng học tập độc lập của người học; và cung cấp dịch vụ hướng nghiệp.

Đại học Thái Nguyên hiện nay đang chuyển dần từ phương pháp giảng dạy truyền thống sang phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực. Phương pháp giảng dạy mới mang tính hợp tác, chú trọng vào việc chia sẻ tri thức và chia sẻ cả việc ra quyết định. Phương pháp giảng dạy mang tính hợp tác này yêu cầu giáo viên phải chia sẻ quyền với sinh viên, cho phép sinh viên có tiếng nói trong việc xác định mục tiêu và quyết định các hoạt động trong giờ học. Để có thể thích ứng và cung cấp các nguồn tư liệu và dịch vụ thông tin phù hợp với phương pháp dạy và học lấy người học làm trung tâm kể trên, Trung tâm Học liệu đang có xu hướng thay đổi trong cách thức đào tạo người sử dụng sản phẩm và dịch vụ của Trung tâm - sinh viên và giáo viên - trong đó chuyển từ kỹ năng nghe nhìn, kỹ năng thư viện nói chung, việc lựa chọn tài liệu, các kỹ năng độc lập sang xu hướng chú trọng vào các loại tài liệu đa phương tiện và truyền thông, kiến thức thông tin và cách đặt câu hỏi, phân tích nhu cầu dùng tin.

Với đội ngũ cán bộ dịch vụ chuyên nghiệp, có lòng yêu nghề và có tinh thần trách nhiệm cao, cán bộ dịch vụ Trung tâm Học liệu đã giúp người dùng tin định hướng nguồn tin mình cần và biết cách tổ chức, lựa chọn tốt các nguồn tin phù hợp, có giá trị sử dụng, có tính khoa học cao. Cán bộ dịch vụ Trung tâm Học liệu đã tổ chức giảng dạy về kỹ năng phân tích nhu cầu tin, kỹ năng tìm kiếm thông tin trên nhiều nguồn khác nhau, đánh giá thông tin và sử dụng thông tin phù hợp.
Hiện nay, cán bộ dịch vụ củaTrung tâm đã và đang mở ra các lớp tập huấn, giúp đỡ giáo viên và sinh viên trong việc tìm kiếm, khai thác, phân tích , đánh giá nguồn thông tin:

- Thường xuyên mở các lớp tập huấn cho cán bộ thư viện các trường thành viên trong việc khai thác các nguồn tin tại Trung tâm và trên Internet, nâng cao nghiệp vụ thư viện đáp ứng việc phục vụ người dùng hiệu quả.

- Thường xuyên mở các lớp tập huấn việc sử dụng, tìm kiếm, khai thác nguồn tin của Trung tâm Học liệu như: Tra cứu tài liệu in ấn, tìm tin trên các CSDL tiếng Anh và tiếng Việt, sử dụng công cụ “Google” trong việc tìm kiếm thông tin.

- Tổ chức lớp tập huấn cho cán bộ giảng viên trường Đại học Y trong việc tìm kiếm, khai thác, sử dụng bộ CSDL HINARI.

-Tổ chức các lớp hướng dẫn tìm kiếm, khai thác nguồn tin của Trung tâm cho sinh viên, học viên cao học năm thứ nhất của các trường thành viên của Đại học Thái Nguyên.

- Xây dựng các thư mục tờ rời, tờ gấp và cách tra cứu nguồn tài nguyên chuyển tới các văn phòng khoa, các thư viện, và phối hợp đưa thông tin về tài liệu điện tử của Trung tâm lên Website của các trường thành viên.

- Mở góc Trung tâm Học liệu tại thư viện các trường nhằm quảng bá, phổ biến dịch vụ thông tin của Trung tâm cho sinh viên, giảng viên các trường.

Đối với từng môn học hoặc bài học cụ thể, cán bộ dịch vụ thông tin có thể tìm hiểu về nội dung bài học/môn học và cung cấp các danh mục tài liệu phù hợp cho môn học đó. Danh mục này có thể bao gồm cả tài liệu in, tài liệu điện tử có tại Trung tâm và các tài liệu miễn phí trên mạng. Đặc biệt, Trung tâm tích cực hỗ trợ các học viên cao học, nghiên cứu sinh định hướng nguồn tài liệu cần tim kiếm, hỗ trợ việc tìm kiếm, khai thác và cung cấp các thông tin phù hợp với yêu cầu.

Với thế mạnh của các nguồn tin điện tử hiện có, sức mạnh nội tại của các dịch vụ thông tin hiện nay của Trung tâm chính là ở khả năng tổ chức và cung cấp các dịch vụ thông tin tham khảo, dịch thuật và phổ biến thông tin chọn lọc và khả năng tạo ra các sản phẩm thông tin có giá trị gia tăng cao. Và các dịch vụ này chỉ có thể triển khai tốt trên cơ sở những năng lực hiện có về nguồn tin và đội ngũ cán bộ thông tin chuyên nghiệp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

• Đoàn Phan Tân, Thông tin học, H., Đại học quốc gia Hà Nội, 2001.

• Đoàn Phan Tân, Tin học hóa trong hoạt động thông tin thư viện, H., Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.

• Trần Mạnh Tuấn, Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện, H., Trung tâm Thông tin và Công nghệ Quốc gia, 1998.

Thực hiện: ThS. Hà Thị Thu Hiếu - Nông Thị Bích Ngọc
Trung tâm Học liệu ĐH Thái Nguyên

Về đầu trang

Ứng dụng Công nghệ phần mềm trong việc phát triển thư viện

Sự phát triển mạnh mẽ của Công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông hiện nay đã tạo ra một sự thay đổi sâu sắc trong toàn bộ đời sống xã hội không chỉ của một quốc gia mà của toàn thế giới. Một quốc gia được coi là mạnh khi họ có nền kinh tế phát triển, sự ổn định về chính trị, an ninh quốc phòng, nền giáo dục hiện đại tiên tiến. Như chúng ta thấy trong các yếu tố trên đều có sự xuất hiện của CNTT. CNTT ngày càng thể hiện rõ chức năng và vai trò không thể thiếu của nó trong đời sống xã hội.

Một trường đại học danh tiếng thường có đầy đủ các thành phần như đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo. Bên cạnh đó không thể không kể đến thư viện – môi trường để cho giảng viên, sinh viên có điều kiện nghiên cứu, học tập và tìm kiếm tài liệu. Trước đây khi nói đến thư viện chúng ta hay hình dung ra một nơi chứa đựng những quyển sách cũ kỹ, máy móc lạc hậu, đội ngũ cán bộ thiếu chuyên nghiệp dẫn đến quá trình phục vụ bạn đọc vô cùng khó khăn...Tuy nhiên ngày nay các trường đại học, viện nghiên cứu đã ý thức được vai trò quan trọng của thư viện, thư viện không chỉ còn là nơi mượn/trả sách mà còn là một trong các yếu tố quan trọng để đánh giá về chất lượng đào tạo của một trường đại học. Thư viện hiện nay với nguồn tài nguyên đa dạng, cập nhật, với hệ thống máy tính đồng bộ, hiện đại đáp ứng tất cả các nhu cầu tra cứu tài liệu của bạn đọc, đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp có trình độ cao.

Thư viện điện tử

Với lợi thế nhanh chóng, kịp thời, có thể truy cập nguồn tài nguyên bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi đâu nên thư viện điện tử ngày càng chiếm ưu thế trong việc tìm tài liệu học tập, nghiên cứu của sinh viên. Đã tới lúc, thư viện điện tử trở thành một thành phần không thể thiếu đối với các trường đại học, cao đẳng, và trung cấp chuyên nghiệp.

Vai trò của CNTT nói chung và Công nghệ phần mềm (CNPM) nói riêng ngày càng được thể hiện rõ nét trong thư viện hiện nay. Ngoài các phần mềm nghiệp vụ tiêu chuẩn hỗ trợ công tác bổ sung, lưu thông và quản lý tài liệu in ấn, tài liệu điện tử của một thư viện hiện đại, các thư viện hiện nay đã tự phát triển các phần mềm ứng dụng để dần loại bỏ công tác quản lý thủ công vừa tốn kém lại không khoa học. Sự xuất hiện của phần mềm máy tính tạo điều kiện cho cán bộ thư viện phục vụ bạn đọc nhanh chóng và chuyên nghiệp, các nghiệp vụ tiến hành chính xác và hiệu quả.

Nhạy bén với xu hướng phát triển và nhu cầu áp dụng CNTT vào việc chuẩn hoá các quy trình nghiệp vụ thông tin-thư viện (TTTV), một số công ty tin học đã nghiên cứu và phát triển các phần mềm ứng dụng phục vụ cho tổ chức, quản lý và khai thác thông tin. Trong số đó có thể kể đến các công ty tên tuổi như Lạc Việt với phần mềm Vebrary, VNNesoft với Elib, Tinh Vân với phần mềm Libol và CMC với phần mềm iLib… Nếu nói đến một giải pháp CNTT cho hệ thống thông tin thư viện mà chỉ đơn thuần là một phần mềm không thôi thì không đủ. Một thư viện điện tử hay một hệ thống thông tin khoa học thực sự hoạt động hiệu quả khi nó phải kết hợp đồng bộ nhiều phần mềm, nhiều thành tố để đảm bảo tổ chức và quản lý được các khâu công việc sau:

• Quản lý các nguồn thông tin truyền thống: sách, báo, tạp chí, bản đồ ở dạng in ấn... có trong kho tư liệu của các Trung tâm TTTV. Tích hợp các loại CSDL được xây dựng theo các quy tắc biên mục khác nhau.

• Quản lý các nguồn tin điện tử, nguồn tin số hóa, tài liệu đa phương tiện (multimedia)

• Có khả năng trao đổi, liên kết với các cơ quan TTTV khác, trong và ngoài hệ thống để hỗ trợ chuẩn nghiệp vụ, tiết kiệm thời gian xử lý thông tin; cung cấp nguồn thông tin đa dạng, phong phú tới người dùng tin.

• Có cổng thông tin tích hợp (Web-portal) để cung cấp thông tin tới người dùng mọi lúc, mọi nơi.

Để xây dựng một xã hội hiện đại, một nền giáo dục tiên tiến chúng ta không thể không đề cập tới vai trò của thư viện nói chung và vai trò của phần mềm nói riêng. Phần mềm đã đang và sẽ trở thành công cụ đắc lực và không thể thiếu trong qui trình thực hiện các nghiệp vụ cũng như qúa trình phục vụ bạn đọc.

Thực hiện: ThS. Trần Hồng Anh
Trung tâm Học liệu ĐH Thái Nguyên

 

Về đầu trang

Website templatesBusiness directory UKYellow pages USWebsite design companyWeb design directoryWeb design directory AustraliaWeb design directory CanadaFree sports web templates