Bản tin Số 06

Bản sắc văn hóa

- Lòng kính tín của người dân Huế
- Vài nét văn hóa của đồng bào dân tộc Khơ-me qua các lễ hội truyền thống tại Đồng bằng sông Cửu Long
- Hình ảnh cây cầu trong đời sống người Miền Tây
- Nhớ Hội An
- Chè xanh Thái Nguyên – Nét văn hóa ẩm thực trong lòng người Việt

Lòng kính tín của người dân Huế

Người dân bình dị ở Huế tin tưởng sâu sắc và thực hành niềm tin rằng muôn vật hữu linh, ngoài con người và động vật hữu hình hữu thể ra còn có nhiều sinh thể khác, tất cả đều chung sống trên mảnh đất này và dưới vòm trời này. Gần gũi nhất, “họ” có thể chọn những cây cối sum suê trong thôn xóm, vườn nhà…. để sinh sống, vì vậy ở những gốc cổ thụ, để ý sẽ thấy có những am nhỏ, tại đó chủ nhà hay người trong thôn xóm thường thắp hương, bày hoa quả mỗi dịp lễ Tết, ngày rằm mồng một... Mỗi khi phải chặt đi hay cắt bỏ ngọn của một cây to để lấy đất xây dựng hay làm lều quán, nếu ở đó trước chưa có am thì người ta sẽ lập một cái am, gọi là làm “nơi đi về” cho những linh hồn trước đó có thể đang ngụ tại cây to kia.

Nếu ai tới Huế dịp tháng 2 hay tháng 8 âm lịch, buổi trưa hoặc chiều sẽ thấy các nhà ven đường bày những án nhỏ trước vỉa hè, trên đó có bát hương, bình hoa, hột nổ, hàng mã và thức cúng. Thức cúng thường gồm hoa quả, xôi chè, khoai sắn, đậu phụng (lạc) hoặc có thêm các món thịt nếu cúng mặn. Chập tối, đôi khi một quãng đường ngắn có tới ba, bốn đám lửa nhỏ, ánh lửa soi khi tỏ khi mờ những gương mặt người chị, người mẹ đang thành kính hóa vàng. Khói lam trắng quyện với trầm hương, với mùi khoai sắn, dâng nhè nhẹ lên trong không gian bình yên của buổi hoàng hôn. Đó là người dân Huế đang “cúng đất”, hướng về những vị thổ thần và các sinh thể không nhìn thấy mặt cùng cư ngụ với mình trên mảnh đất này.

Nói là “cúng đất”, cúng thổ thần, nhưng hiện nay trong suy nghĩ của đa phần người dân, đó cũng là dịp để cúng tất cả các sinh thể, linh hồn chung sống. Một năm hai lần, hầu như gia đình nào cũng đều làm một lễ cúng nhỏ như vậy với lòng mong muốn cuộc sống hài hòa, bình an với tất cả mọi người, mọi loài nhìn thấy hay không nhìn thấy được. Đôi khi người ta đọc kinh cho các vị đó để chúc an lạc và cầu mong sự hài hòa, bình an trong cuộc sống.

Nếu người dân chân chất cúng đất với lễ nhỏ ngoài sân hoặc ven đường, thì dưới triều đình phong kiến, các vị Vua đích thân làm Lễ tại đàn Xã Tắc vào dịp tháng 2 âm lịch hàng năm để tế thần Đất (Xã) và thần Ngũ Cốc (Tắc). Có cách giải thích rằng Vua tế tại đàn Xã Tắc là tế Mẹ, tại đàn Nam Giao là tế Cha (vì vua là thiên tử, con trời). Trời Đất là cha mẹ của Vua và trăm họ, nên việc Vua đích thân làm chủ lễ việc tế Trời và Đất hàng năm là tỏ lòng hiếu kính của con với cha mẹ. Lễ tế đàn Nam Giao và Lễ tế đàn Xã Tắc là hai nghi lễ quan trọng nhất, được xếp vào hàng Đại Tự dưới thời Nguyễn.

Các nghi lễ thiêng liêng này hiện đã được chính quyền Tỉnh Thừa Thiên Huế phục dựng. Lễ tế đàn Nam Giao được phục dựng lần đầu trong dịp Festival Huế năm 2006, Lễ tế đàn Xã Tắc phục dựng lần đầu trong Festival Huế 2008. Ban đầu, những hình thức phục dựng này chủ yếu mang tính chất “hội” – để khách tham quan thưởng lãm, chứ không hoàn toàn là lễ tiết. Tuy nhiên, trong lễ Tế đàn Xã Tắc năm 2010 vào ngày 24 tháng 2 âm lịch (nhằm ngày 8 tháng 4 dương lịch), có thể thấy từ lãnh đạo tới người dân thường đều hết lòng thành kính.

Mới hay, từ trên xuống dưới, từ bậc đứng đầu thiên hạ tới người dân thường, nếu ai ai cũng kính tín, thật lòng tôn trọng mọi sinh thể hữu hình hay vô hình, thì mới góp phần giữ được cái gốc của an hòa trong cuộc sống.

Thực hiện: Tô Diệu Lan
Trung tâm Học liệu - Đại học Huế

Về đầu trang

Vài nét văn hóa của đồng bào dân tộc Khơ-me qua các lễ hội truyền thống tại Đồng bằng sông Cửu Long

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất Châu thổ nơi có dải dất phù sa, nơi dừng chân của những dòng chảy văn hóa. Chủ nhân của vẻ đẹp dải đất phù sa này là 4 dân tộc Kinh - Hoa – Khơ-me – Chăm. Trong đó, dân tộc Khơ-me có dân số khoảng 1 triệu người, đứng thứ hai so với dân tộc Kinh. Dân tộc Khơ-me là một tộc người có nền văn hóa truyền thống độc đáo, giàu bản sắc. Đây là tộc người đứng thứ 5 trong các tộc người thiểu số của Việt Nam và đứng thứ nhất trong các tộc người thiểu số ở ĐBSCL. Người Khơ-me sống tập trung tại các tỉnh Sóc Trăng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Kiên Giang, An Giang. Họ có tên gọi khác là Việt gốc Miên, Khơ-me Krôm. Tiếng Khơ-me là ngôn ngữ phổ biến nhất, người Khơ-me có tiếng nói và chữ viết riêng, mặc dù vậy, họ có chung một nền văn hoá, một lịch sử bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam và họ sống xen kẽ với đồng bào Kinh, Hoa trong các phum, sóc, ấp.

Từ thời xa xưa, người Khơ-me đã có một nền văn hóa phong phú, đa dạng, mang đậm sắc thái dân tộc, và cho đến nay, những giá trị trong kho tàng văn hóa ấy vẫn không hề bị phai nhạt. Một biểu hiện rõ nét nhất hiện nay, đối với người Khơ-me vùng ĐBSCL đó là những ngôi chùa. Ngôi chùa là trung tâm văn hóa, nơi học Kinh, học chữ, học giáo lý làm người, nơi lưu giữ các pho kinh điển đạo Phật và cùng là nơi sinh hoạt văn hóa, giải trí vui chơi của chư Tăng và đồng bào tín đồ Phật tử. Chính vì vậy, hầu hết các lễ hội cũng như nét văn hóa của đồng bào dân tộc Khơ-me gắn chặt với giáo lý đạo Phật, các lễ hội ấy phần lớn được tổ chức tại chùa, mỗi chùa điều có các Chư tăng hướng dẫn chứng minh cho Phật tử thực hiện các lễ hội ấy. Với người Khơ-me, lễ hội đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống cộng đồng, nó chi phối mạnh tới sinh họat tinh thần, vật chất, có thể kể đến các lễ hội chính như sau:

1. Lễ tết Chôl Chnăm Thmây

Là tết cổ truyền của dân tộc Khơ-me được diễn ra tại các chùa và các Phum Srók, lễ Chôl Chnăm Thmây - nghĩa là “Mừng năm mới”. Đây là lễ tết lớn nhất hàng năm của người Khơ-me, còn gọi là lễ chịu tuổi. Hằng năm cứ vào giữa tháng 4 dương lịch, theo lịch Khơ-me là Khê-chet (tháng 3 âm lịch), lễ tết được kéo dài 3 ngày: Ngày thứ nhất (Sangkran) lễ rước “Maha Angkhran mới”, lễ này được chọn đúng theo giờ tốt, mọi người dân Khơ-me chuẩn bị quần áo đẹp và mang nhang đèn, lễ vật đến chùa xếp hàng và đi xung quanh chính điện 3 lần để làm lễ chào mừng năm mới; Ngày thứ hai, mỗi gia đình đều chuẩn bị nấu cơm và đem đến chùa sáng sớm để làm lễ dâng cơm cho các vị sư sãi; Ngày thứ ba của lễ Chol-chhnăm-thmây là ngày “Lơng săk”. Sau khi dâng cơm sáng và trưa cho các vị sư, mọi người đem nước thơm cùng nhang đèn đến bàn thờ Phật làm lễ tắm tượng Phật và tắm các vị sư cao niên, nhằm trút bỏ những bụi bặm xấu xa của năm cũ để đón nhận một năm mới tươi vui hạnh phúc. Buổi chiều là lễ cầu siêu (Băng skôl) các vị sư được mời đến tháp lưu giữ hài cốt của những người quá cố để cầu kinh, mong linh hồn họ được siêu thoát.

Nghi thức tắm nước thơm cho tượng Phật trong dịp lễ Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào dân tộc Khơ-me tại Chùa Dơi – tỉnh Sóc Trăng

2. Lễ Sen Đolta:

Là lễ cúng Ông bà nhằm tưởng nhớ công ơn Cha mẹ, họ hàng, cầu phước cho linh hồn những người đã khuất và tri ơn tổ tiên đã khai phá đất đai, phù hộ cho phum, sóc an vui,( lễ này giống như lễ Vu Lan báo hiếu của người Kinh). Hằng năm cứ vào khoảng cuối tháng 8 âm lịch (theo lịch Khơ-me là tháng Photrobot), lễ hội Sen Đolta kéo dài từ ngày 16 đến ngày 30/8 âm lịch, với 4 lễ thức chính tại Chùa và tại mỗi nhà người dân tộc Khơ-me. Lễ bao gồm: Lễ đặt cơm vắt (Bênh canh bênh); Lễ cúng Ông bà (Bênh Sen Dolta); Lễ hội (Bênh phchum bênh); Lễ tiễn Ông bà (Bênh chuôh Dolta). Trong 4 lễ này thì lễ tiễn Ông bà diễn ra rất quan trọng mà khắp nơi trong mọi phum sóc, con cháu phải làm lễ cúng tiễn đưa và chuẩn bị mọi phương tiện (thường làm bằng bẹ chuối, kết thành những chiếc thuyền nhỏ trên có trang bị cờ xí, thức ăn, đồ dùng... mang tính tượng trưng rồi đem thả xuống sông, rạch) để đưa ông bà trở về an toàn, đây là lễ tiết phù hợp với đặc điểm địa lý vùng sông nước ĐBSCL.

3. Lễ hội Oc-om-bok:

Là lễ hội cúng trăng được tổ chức hằng năm vào đêm 15-10 Âm lịch (25-11 dương lich), đây là lễ để tạ ơn mặt trăng vốn được coi như một vị Thần điều động mùa màng trong năm. Thức cúng đặc biệt trong ngày hội này là món “Cốm dẹp”. Vào đêm này, ngay từ đầu hôm, mọi người đã tập trung đông đúc tại khuôn viên các chùa hoặc tại sân nhà để chờ đón trăng lên. Người ta kê một cái bàn với đầy đủ các vật cúng như cốm dẹp (làm bằng lúa nếp tươi rang lên vừa nổ rồi bỏ vào cối giã dùng chày đập dẹp dừa, chuối, khoai lang, khoai môn và các loại bánh kẹp... Mọi người quây quần ngồi trên chiếu chắp tay hướng về phía mặt trăng, chờ đón trăng lên, một cụ già làm chủ lễ bước ra khấn vái (nói lên lòng biết ơn mặt trăng, xin mặt trăng tiếp nhận lễ vật, cầu sức khỏe cho mọi người và cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt quanh năm) . Buổi sáng hôm sau, một lễ khác sẽ được tiếp diễn không kém phần hấp dẫn, đó là lễ đua "ghe ngo". Hội đua ghe ngo do các sư sãi chủ trì tổ chức với sự tham gia của đông đảo người dân Khơ-me tại địa phương. Địa điểm thường tổ chức hằng năm là trên đoạn sông từ Sóc Trăng đến huyện Mỹ Xuyên. Sau đó, chuyển sang kênh Xáng và tiếp theo là kênh Nhu Gia (Sóc Trăng).
Đó chính là một số lễ hội truyền thống quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Khơ-me, mang tính chất thiêng liêng trang trọng. Đối với người Khơ-me, hội lễ không phải chỉ là dịp để vui chơi giải trí... mà trước tiên mang ý nghĩa là những “đám phước”. Dù có nghèo khó chăng nữa, các phật tử trong những ngày này vẫn không quản tốn kém mua sắm các lễ vật và đem tiền bạc dâng cúng vào chùa. Những nét văn hóa ấy đã đóng góp cho văn hóa ĐBSCL thêm giá trị, giàu đẹp và là sự quyến rũ của nền “Văn minh miệt vườn sông nước”.

Thực hiện: Thạch Thị Tuyến
Trung tâm Học liệu Trường ĐH Cần Thơ

Về đầu trang

Hình ảnh cây cầu trong đời sống người Miền Tây

Nói đến vùng sông nước Nam Bộ là nói đến xứ sở của những cây cầu khỉ, "khó đi" và "lắt lẻo". Mỗi cây cầu là không gian quê hương, đất nước, là cảnh vật quen thuộc nơi làng xã, thôn xóm. Hình ảnh những cây cầu khỉ, cầu tre, cầu dừa…đã trở nên quen thuộc, đi vào tâm thức của người dân Nam Bộ chân chất, hiền lành và hiếu khách…trở thành nét văn hóa rất riêng của người Miền Tây sông nước. Tới miệt vườn nào ta cũng bắt gặp những cây cầu tre, cầu ván, cầu khỉ…và đâu đây văng vẳng bên tai lời ru của người mẹ Miền Tây:

“Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi”.

Với nghĩa biểu trưng, cây cầu thể hiện cho những khó khăn, trắc trở của đường đời. Sự trắc trở đó, được phán ánh từ "sự khó đi" “gập ghình” của những cây cầu tre lắt lẻo, cầu ván đóng đinh…Những cây cầu này được ví von, phản ánh nhiều nỗi gian truân, vất vả của cuộc sống con người. Nhưng người mẹ vẫn dặn con:

“Khó đi mẹ dắt con đi
Con đi trường học mẹ đi trường đời”.

Biểu tượng cầu ở Nam Bộ không bắt nguồn từ những tư duy sâu xa mà bắt nguồn từ cái gần gũi, quen thuộc, gắn bó với sinh hoạt gia đình, xã hội, sinh hoạt lao động, gắn bó với thực tế lắm kênh rạch, cầu khỉ. Đó là loại biểu tượng nảy sinh từ thực tế cuộc sống hàng ngày, từ nhận thức và tình cảm của con người, của vùng văn hoá. Biểu tượng cây cầu như là một thử thách khó khăn mà con người cần phải vượt qua ở Nam Bộ, cũng là một biểu tượng mang tính phổ biến, tính nhân loại. Người Nam Bộ với bản chất “hay lam, hay làm” thì cái chuyện vượt qua khó khăn, được ví von như là điệu hò mượt mà, với hai từ “ví dầu” thì ta chẳng còn thấy cái khó, cái khổ đâu nữa mà ta chỉ còn thấy cái chí, cái tình, cái vui.

Hình ảnh cầu là không gian thiên nhiên thân thuộc, là nơi hò hẹn của tình yêu lứa đôi, cầu có mặt từ ngày đầu họ gặp gỡ, cầu là điểm mốc đánh dấu nơi họ tới lui trao đổi ân tình:

“Cô kia bới tóc đuôi gà
Nắm đuôi cô lại hỏi nhà cô đâu?
Nhà tôi ở giữa đám dâu
Phía trên đám đậu, đầu cầu ngó qua
Ngó qua thấy bắp trổ cờ
Thấy dưa trổ nụ, thấy cà trổ bông”

Là không gian giao duyên trữ tình trong tình yêu đôi lứa. Ở Nam Bộ, những cây cầu thô sơ tồn tại trong môi trường tự nhiên như thế nào thì khi trở thành yếu tố tồn tại đời sống tình cảm cũng như thế ấy:

“Bằng lăng chặt khúc bắc cầu
Đặng anh qua lại giải sầu cho em”

Rất hiếm khi hình ảnh cây cầu trong ca dao tình yêu Nam Bộ được thể hiện xa với hình ảnh thực tế, nếu "bay bổng" hơn thì cũng chỉ đến mức này thôi:

“Sông cách sông, thuỷ cách thủy
Anh thương em anh xe sợi chỉ anh bắc cây cầu
Để em qua lại giải sầu với anh”.

Cây tre gắn bó với con người Việt Nam từ xưa tới nay, và cây tre cũng được dùng làm cầu nhiều nhất ở vùng kênh rạch chằng chịt này. Cũng vì chiếc cầu tre lắc lẻo mà chàng trai bộc lộ một nỗi lo:

“Cầu tre lắt lẻo anh thắt thẻo ruột gan
Sợ em đi chửa quen đàng
Rủi em có mạnh hệ, lỡ làng duyên anh”.

Cầu tre đã yếu, đã khó đi còn những cầu ván mỏng, ván yếu, ván oằn thì sao? Ta hãy lắng nghe ước mơ của một cô gái :

“Anh về xẻ ván cho dày
Bắc cầu sông cái cho thầy mẹ sang”.
Các cô gái đôi khi mượn cầu yếu, cầu chênh vênh để được người yêu dắt qua, được gần nhau:
“Cầu cao ván yếu gió rung
Em không đi được cậy cùng có anh”.

Không chỉ có cô gái mượn hình ảnh cây cầu để thể hiện tình cảm của mình, mà các chàng trai mượn hình ảnh “dân dã” này để thể hiện khí phách:

“Phải chi lấy được vợ vườn
Tập đi cầu khỉ thêm đường dọc ngang”

Và dù có những khó khăn, trắc trở thì “chàng trai” cũng quyết tâm vượt qua, không gì có thể ngăn cách được nữa:

“Tìm em chẳng thấy em đâu
Lội sông chẳng tới, qua cầu lại xa
Bây giờ trông thấy em ra
Lội sông cũng được, cầu xa lại gần”.

Yêu nhau ai chẳng muốn bền duyên giai ngẫu đến răng long, đầu bạc. Họ thể hiện lời thề sắt son. Cây cầu cũng đã bao lần chứng kiến cảnh thề thốt:

“Chừng nào cầu sắt gãy hai
Sông Sài Gòn lấp cạn anh sai lời nguyền”.

Cây cầu, không chỉ là hình ảnh để những chàng trai, cô gái Nam Bộ mượn để trao duyên, mà với đặc điểm của cầu, dần dần rồi thành luôn tên gọi vùng đất, tên làng, tên xã, Cầu Kè (Trà Vinh), Cầu Bông (Long An), cầu Cao (Sóc Trăng), cầu Sắt (có ở nhiều địa phương)… Tất cả được thể hiện qua những vần ca dao thật nhẹ nhàng, nhưng không kém phần tinh tế:

“Gái Cầu Bông như rồng như Phụng
Trai Bến Lức mặt mụn thấy ghê
Em ơi đừng có nói mê
Có ngày rồng phụng cũng về với anh”.

Cũng có khi mượn hình ảnh chiếc cầu để ngợi ca đất nước – con người nơi ấy:

“Cầu nào cao bằng cầu Cái Cối
Gái nào giỏi bằng gái Bến Tre”.

Cầu là một loại phương tiện giao thông gắn liền với đường bộ. Tồn tại cùng thời gian, mỗi cây cầu đã mang trên mình biết bao kỷ niệm của con người, chứng kiến biết bao biến đổi của lịch sử. Mỗi vùng đất, bất kỳ cây cầu nào do con người tạo ra cũng đều là sản phẩm của trí tuệ và khát vọng chinh phục tự nhiên của con người. Với những đặc điểm của cư dân trên vùng đât trẻ, người Nam Bộ đã sáng tạo nên những cây cầu mang đậm tính chất văn hóa vùng. Không phải riêng ở đất Tây Nam Bộ mới có cầu. Trên dải đất hình chữ S lắm sông nhiều suối, cầu là phương tiện đi lại, là những thắng cảnh ngoạn mục. Song trong đời sống của người bình dân miền Tây Nam Bộ, họ có những cách nhìn, cách cảm riêng về cây cầu. Nói không quá nó đã trở thành một biểu tượng trong văn hoá nhận thức, văn hoá tâm linh của dân gian miệt này. Tất cả chúng làm nên một diện mạo, một đặc trưng riêng trong đi lại giao tiếp, ứng xử, tâm tình…của con người Nam Bộ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bảo Định Giang – Nguyễn Tấn Phát - Trần Tấn Vĩnh - Bùi Mạnh Nhị 1984: Ca dao dân ca Nam Bộ, NXB thành phố Hồ Chí Minh.
3. Chu Xuân Diên 1999: Cơ sở văn hoá Việt Nam, Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh.
4. Đỗ Văn Tân 1984: Ca dao Đồng Tháp Mười, Sở Văn hoá-Thông tin Đồng Tháp.
6. Hà Thúc Minh 2004: "Đặc tính con người đồng bằng sông Cửu Long", Tạp chí Xưa và Nay, (226).

Thực hiện: Bùi Thị Phượng
Trung tâm Học liệu Trường ĐH Cần Thơ

Về đầu trang

Nhớ Hội An

“Hội An, phố cổ êm đềm,
Xa người ta nhớ ngày đêm hỡi người!
Phố xưa ai nở nụ cười
Cho lòng rạo rực bóng người không nguôi...”

Phố cổ Hội An

Mỗi lần nghĩ đến Hội An, những câu hò lắng đọng mang đầy màu sắc hoài niệm nhớ nhung này lại ngân vang trong tâm trí của tôi – một người con của Đất Quảng. Đã lâu lắm rồi tôi chưa có dịp về thăm lại Hội An dù Hội An chỉ cách thành phố Đà Nẵng 30 km về phía Nam. Tuy nhiên, trong tôi vẫn sống mãi hình ảnh Hội An - một trong những đô thị cổ xưa nhất của Việt Nam với bề dày lịch sử khoảng năm trăm năm. Mặc dù Hội An chỉ chiếm một khoảng không gian chừng vài kilômet vuông nhưng đô thị cổ này lại chứa đựng rất nhiều những giá trị văn hóa và nghệ thuật với các công trình kiến trúc cổ tiêu biểu như: Chùa Cầu, Miếu Quang Công, Chùa Quang Âm, Hội quán Phước Kiến, Đình Cẩm Phô, Nhà cổ số 101 Nguyễn Thái Học, Nhà thờ tộc Phạm, ....

Nhớ đến Hội An, trước mắt tôi hiện lên một đô thị nho nhỏ có những con phố cổ, nơi thì cong cong nơi thì thoai thoải, với những căn nhà cũ kĩ (nhà cổ) khấp khiểng không thẳng hàng. Ở nhiều góc phố, người ta có thể thấy những chiếc cổng vòm nhỏ nhắn với đôi hàng chữ Nho và một lớp ngói xám nép bên dưới những tán cây cổ thụ. Khi đi dạo trên các con phố, chúng ta có thể phát hiện cứ một nhà hàng ăn uống lại đến một nhà bán đồ lưu niệm và dăm bảy hiệu may quần áo, bán tranh vẽ. Đèn lồng tròn, dẹt màu xanh đỏ treo dưới các trần thấp. Cứ đi vài trăm mét là chúng ta lại thấy một ngôi đền miếu của người Hoa có cổng cao rộng với các mái ngói ống men xanh cong vút và trang trí rườm rà. Và thật kỳ lạ mấy dãy phố trong khu phố cổ chạy song song rồi cùng gặp nhau ở một địa điểm, nơi có một chiếc cầu gỗ hơi cong cong có mái ngói thấp và lan can kín đáo. Sát bên cầu phía thượng lưu là một ngôi chùa nhỏ có cửa mở thông ra cầu. Đó là Chùa Cầu hay còn được gọi là Cầu Nhật Bản – ngôi chùa cổ vẫn đứng vững trước bao biến cố của thời cuộc, bão táp phong ba và bao trận lụt kinh hoàng. Theo ông Nguyền Phước Tương “...Chùa Cầu là nhịp cầu nối liền ba dân tộc Việt Nam, Trung Hoa và Nhật Bản. Đô thị cổ Hội An sẽ mất đi vẻ đẹp thi vị nếu chiếc cầu có mái ngói gắn liền với ngôi chùa cổ duy nhất ở đó không còn tồn tại nữa...”

Chùa Cầu

Nhớ đến phố cổ Hội An, tôi không thể nào không không nhớ đến cái không khí xưa của một Hội An trong “Đêm phố hội”. Vào đêm 14 âm lịch hàng tháng, trong khu vực phố cổ, các nhà chỉ thắp đèn lồng, ngoài phố hoàn toàn vắng bóng các phương tiện giao thông hiện đại, chỉ có người đi bộ. Vài cụ già đội khăn xếp ngồi chơi cờ tướng ở các góc sân chùa hay ngay trước cửa nhà. Các ban nhạc gia đình đàn hát quây quần hoặc ngâm xướng thơ do họ tự sáng tác và khắp nơi là các trò chơi dân gian như đánh võ, hát bội và hò ca.

Nỗi nhớ hội An trong tôi còn là nỗi nhớ về một miền đất thấm đẫm “nhân tình nồng hậu” với những người dân hiền lành, chân chất, giản dị, thẳng thắng, cần cù, lịch thiệp và hiếu khách được khắc họa rõ nét qua câu hò quen thuộc:

“Hội An đất hẹp người đông,
Nhân tình nồng hậu, lá bông đủ màu...”

Tất cả những điều đó cùng với nhiều giá trị khác nữa mà tôi không thể đề cập hết trong bài viết ngắn này đã khiến cho Hội An trở thành một viên ngọc nhỏ lung linh quyến rũ thu hút được sự quan tâm và chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu, du khách trong và ngoài nước. Hội An đã trở thành điểm sáng trên bản đồ du lịch thế giới và hiện nay là một trong những điểm thu hút du khách nhất của Việt Nam. Hơn nữa, Hội An còn được Tổ chức Văn hóa Khoa học Giáo dục của Liên Hợp Quốc UNESCO dày công nghiên cứu, xét duyệt và chính thức công nhận là “Di sản Văn hóa thế giới" vào năm 2000.

Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Phước Tương. Đô thị cổ Hội An và những di tích tiêu biểu: La vielle ville HoiAn et ses monuments représentatifs. Nhà xuất bản Giáo dục. 1997.
2. Phạm Hoàng Hải. Người bạn đường du lịch văn hóa Hội An. Nhà xuất bản Thế giới. 2001.

Thực hiện: ThS. Lê Thị Thanh Nhàn
Trung tâm Thông tin Học liệu - Đại học Đà Nẵng

Về đầu trang

Chè xanh Thái Nguyên – Nét văn hóa ẩm thực trong lòng người Việt

Thái Nguyên được biết đến không những là cái nôi của chiến khu Việt Bắc mà còn nổi tiếng với cây chè – nét văn hóa ẩm thực trong lòng người Việt. Chè Thái Nguyên nổi tiếng bởi chất lượng và hương vị thơm ngon đặc biệt.

Đất Thái Nguyên có điều kiện cho cây chè phát triển và nó thực sự trở thành một sản phẩm mang tính đặc thù của quê hương. Khác với các vùng đất trồng chè khác của đất nước, chè Thái Nguyên đã trở thành một “thương hiệu” nổi tiếng được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài nước đánh giá cao. Chè Thái Nguyên ngon nhất là chè xanh Tân Cương. Đây chính là vùng đất chè truyền thống của Tỉnh. Ở Tân Cương có những loại chè ngon cũng do một phần chất đất ở đây được trời phú cho tươi tốt và có “duyên” với cây chè. Chè Tân Cương có búp đều, nhỏ, hình móc câu, có vị cốm thơm. Nuớc pha trà ngon nhất là nước suối đầu nguồn, nuớc sạch ở giữa lòng sông hoặc nước giếng khơi. Để đun chè ngon người pha chè phải đun bằng bếp củi. Trước khi pha chè cần tráng bộ đồ pha chè qua nước nóng. Để chè ngon, người pha cần dành 3-5 phút ngâm chè trong nước sôi, lắc đều trước khi chắt.

Chè Thái Nguyên có vị đặc trưng là chát dịu, để lâu có vị ngọt nơi đầu lưỡi không nơi nào có được. Vì thế chè Thái Nguyên đã có được các thị trường xuất khẩu lớn như Nhật, Singapore, Mỹ, Trung Quốc...trong những năm gần đây.

Tuy sản phẩm chè Thái Nguyên đã có một thương hiệu chính thống, được Nhà nước bảo hộ nhưng việc tạo dựng chỗ đứng vững chắc cho thương hiệu chè Thái Nguyên trên thị trường trong nước và xuất khẩu đang là vấn đề không nhỏ đặt ra với ngành sản xuất, chế biến chè của tỉnh Thái Nguyên.

Chính vì thế, việc được đăng cai lễ hội Festival Trà quốc tế dự kiến được tổ chức vào tháng 11 năm nay là cơ hội tốt để chè Thái Nguyên tiếp tục khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường trong và ngoài nước. Đây cũng là cơ hội tốt để quảng bá thương hiệu chè Thái Nguyên nói riêng và các sản phẩm chè Việt Nam nói chung với du khách nước ngoài.

Thực hiện: Trần Thị Mỹ Hạnh
Trung Tâm Học liệu ĐH Thái Nguyên

 

Về đầu trang

Website templatesBusiness directory UKYellow pages USWebsite design companyWeb design directoryWeb design directory AustraliaWeb design directory CanadaFree sports web templates